Biến chứng nguy hiểm của đái tháo đường

Đái tháo đường có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, nếu không nhận biết và phòng ngừa sẽ dẫn đến những hậu quả không lường trước. Vậy đái tháo đường có những biến chứng nguy hiểm nào? Mời quý bạn đọc tìm hiểu trong bài viết sau.

08-11-2024 18:51
Theo dõi trên |

Bệnh đái tháo đường có thể ảnh hưởng đến hệ mạch máu toàn cơ thể và hệ thần kinh. Cụ thể, tùy theo thời gian mắc bệnh, mức độ đường huyết, bệnh nhân có được điều trị tốt hay không mà biến chứng có thể xảy ra ở tim gây bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim cấp, suy tim…; mạch máu ở mắt gây mù lòa tổn thương võng mạc; mạch máu thận gây suy thận; hệ thần kinh gây đột quỵ; rối loạn cảm giác thần kinh ngoại biên gây tê tay chân; trên hệ mạch máu ngoại biên gây tắc động mạch chi dưới nếu không kịp thời sẽ dẫn đến cắt cụt chi.

Biến chứng cấp tính

Tăng đường huyết quá mức

Đây là biến chứng nặng do tăng đường huyết nặng, mất nước nghiêm trọng, tăng áp lực thẩm thấu máu và rối loạn ý thức có thể dẫn đến hôn mê và tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Triệu chứng nhận biết bệnh nhân tiểu đường xuất hiện biến chứng tăng đường huyết quá mức bao gồm: Khát nước, tiểu nhiều, ăn nhiều, sụt cân; mất nước nặng; rối loạn tri giác; có thể có nhiễm trùng kèm theo viêm phổi, nhiễm trùng tiểu…

Kết quả xét nghiệm đường huyết tăng rất cao có thể lên đến 400-500 mg% và các biến đổi về cân bằng kiềm toan và áp lực thẩm thấu máu.

Nhiễm Ceton acid máu

Nhiễm ceton accid máu do đái tháo đường là biến chứng nghiêm trọng, xảy ra khi cơ thể bệnh nhân sản sinh quá nhiều acid trong máu (gọi là thể ceton) do tình trạng thiếu hụt insulin, thường gặp ở đái tháo đường type 1.

Khi có triệu chứng nhiễm ceton acid máu, bệnh nhân có thể xuất hiện dấu hiệu khá nước, tiểu nhiều, ăn nhiều, sụt cân; buồn nôn, nôn ói; đau bụng; dấu mất nước; thở nhanh, hơi có có mùi ceton; có thể thay đổi tri giác.

Kết quả xét nghiệm đường huyết tăng cao, có ceton trong máu và nước tiểu; toan chuyển hóa pH<7.2.

Hạ đường huyết

Hạ đường huyết được xác định khi đường huyết <70mg/ dl (3.9 mmol/l).

Hạ đường huyết do đái tháo đường là biến chứng ít gặp khi người bệnh tiểu đường đang điều trị nhưng ăn uống kém, ăn kiêng quá mức, dùng thuốc hạ đường huyết quá liều hoặc có bệnh kèm theo như suy gan, suy thận… nưng không theo dõi đường huyết định kỳ.

Trong trường hợp bệnh nhân hạ đường huyết phát hiện muộn, mức độ nặng không xử lý kịp thời có thể xảy ra hôn mê, thậm chí tử vong nhưng tình trạng này rất hiếm.

Biến chứng mạn tính

Biến chứng mạch máu não và tim

Hiện tượng tăng đường huyết làm quá trình xơ vữa mạch máu diễn ra nhanh hơn, dễ hình thành cục máu đông trong lòng động mạch, mảng xơ vữa gây bít và tắc lòng mạch dẫn đến đột quỵ não, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim.

Bệnh mạch vành chiếm 705 tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường, gây đau hoặc không đau ngực. Phần lớn biến chứng này không có biểu hiện vì người bệnh đái tháo đường thường bị mất cảm giác do tổn thương thần kinh. Vì vậy cần thường xuyên theo dõi và khi có các triệu chứng xuất hiện đột ngột như khó thở, huyết áp tụt, rối loạn nhịp tim phải đến ngay cơ sở y tế gần nhất.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), người mắc bệnh tiểu đường có nguy cơ đau tim và đột quỵ tăng gấp 2-3 lần người bình thường.

Biến chứng mạch máu ngoại biên

Biến chứng mạch máu ngoại biên có triệu chứng giống viêm động mạch do xơ vữa như đau cách hồi, đau chân ở tư thế nằm, chân lạnh, tím đó ở phần dưới, ở ngón chân, teo các cơ liên đốt có thể dẫn đến loét, hoại tử, vết thương lâu lành và cắt cụt chân.

Biến chứng mắt

Biến chứng mắt do đái tháo đường là biến chứng rất phổ biến, chiếm 2,6% tỷ lệ mù trên toàn cầu (theo WHO). Bệnh lý võng mạc do đái tháo đường, đục thủy tinh thể có thể dẫn đến mù lòa vĩnh viễn nếu không điều trị kịp thời.

Biến chứng thận

Đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu gây ra suy thận.

Thận có chức năng chính là lọc máu, đào thải chất cặn bã ra ngoài cơ thể thông qua đường tiểu. Ở người đái tháo đường, do đường huyết tăng cao dẫn đến lượng máu đến thận quá lớn, thận phải làm việc (ọc) quá mức kéo dài, hệ thống lọc bắt đầu bị phá hủy gây tổn thương hệ thống lọc thận. Từ đó chức năng thận cũng bị suy giảm dẫn đến suy thận cấp, suy thận mạn.

Biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường có thể nhận diện qua các triệu chứng: Phù nề; tiểu nhiều về đêm, trong nước tiểu có bọt hay bong bóng; thiếu máu: mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, mất tập trung, chán ăn; ngứa, buồn nôn, khó thở; tăng huyết áp có thể xuất hiện ở giai đoạn sớm hoặc trễ.

Kết quả xét nghiệm cho tháy tiểu đạm; chức năng thận giảm; thiếu máu

Biến chứng thần kinh

Biến chứng thần kinh do đái tháo đường (còn gọi là bệnh thần kinh do đái tháo đường) là biến chứng phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường, xuất hiện nhiều ở bệnh nhân kiểm soát đường huyết kém.

Mặc dù biến chứng này ít gây tử vong nhưng là nguyên nhân hàng đầu của cắt cụt chân.

Biến chứng này có thể nhận diện qua các triệu chứng trên người bệnh đái tháo đường.

Thứ nhất là các triệu chứng về thần kinh ngoại biên: Hai bàn chân tê rần, châm chích, kiến bò, nóng rát, đau nhức… ở đầu ngón, sau đó lan dần ra hai bên; có thể tăng nhạy cảm đau; giảm hoặc mất cảm giác như đi bị rớt dép; khó đi đứng, leo cầu thang, cầm nắm, nâng đồ vật.

Thứ hai là triệu chứng thần kinh tự chủ:

Tim mạch: Nhịp tim nhanh, mệt khi gắng sức, nhồi máu cơ tim không đau, hạ huyết áp tư thế, sợ nóng, mất triệu chứng hạ đường.

Tiêu hóa: Khó nuốt, nuốt nghẹn, nôn, tiêu chảy xen kẽ táo bón thường xảy ra về đêm, không đau bụng.

Tiết niệu, sinh dục: Tiểu lắc nhắc, không kiểm soát, nhiễm trùng tiểu tái phát, bệnh bàng quang thần kinh làm giảm co bóp và liệt thần kinh, rối loạn cương ở nam, khô âm đạo ở nữ.

Nguồn: Cẩm nang sức khỏe phòng chống đột quỵ

  • Từ khóa:
Đột quỵ xong nên tập gì, tập khi nào để không “phản tác dụng”?

Đột quỵ xong nên tập gì, tập khi nào để không “phản tác dụng”?

Tập phục hồi chức năng sau đột quỵ không phải cứ cố gắng vận động càng nhiều càng tốt. Việc lựa chọn bài tập đúng mục tiêu và đúng giai đoạn mới giúp người bệnh cải thiện vận động, ngôn ngữ và hạn chế biến chứng, rút ngắn thời gian hồi phục.

Video

Hẹp động mạch vành: Nguy hiểm thế nào và do đâu?

Hẹp động mạch vành: Nguy hiểm thế nào và do đâu?

Hẹp động mạch vành là tình trạng lòng mạch nuôi tim bị thu hẹp, làm giảm lượng máu và oxy đến cơ tim. Nếu không được phát hiện, kiểm soát và điều trị kịp thời, bệnh có thể tiến triển âm thầm nhưng dẫn đến nhiều biến cố nguy hiểm như nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp tim, thậm chí đột tử. Vậy nguyên nhân nào gây hẹp động mạch vành và những yếu tố nguy cơ nào cần đặc biệt cảnh giác?

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ