Đối tượng, nguyên nhân và cách điều trị nhồi máu cơ tim, đột quỵ hậu COVID-19

Sau khi khỏi COVID-19, người bệnh có thể phải đối mặt với tình trạng đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim. Vì vậy, việc tìm ra phương pháp phòng ngừa là mối quan tâm lớn của các F0 lành bệnh? ThS.BS Đặng Huỳnh Anh Thư – Phó Trưởng Bộ môn sinh lý, Sinh lý bệnh miễn dịch, Đại học Y dược TPHCM sẽ giúp bạn đọc giải đáp những lo lắng này.

24-03-2022 17:17
Theo dõi trên |

1. Hậu COVID-19 ảnh hưởng tim mạch ra sao?

ThS.BS Đặng Huỳnh Anh Thư trả lời: Thực tế, đến thời điểm hiện tại nguy cơ mắc các rối loạn tim mạch ở bệnh nhân hậu COVID-19 rất đáng kể. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi nhiễm SARS-COV-2, bên cạnh những rối loạn tim mạch ở giai đoạn cấp, tình trạng sẽ còn ảnh hưởng và kéo dài đến 1 năm sau khi người bệnh khỏi hoàn toàn. Ngay cả những người nhiễm COVID-19 nhẹ hoặc không triệu chứng cũng có nguy cơ rối loạn tim mạch ở giai đoạn hậu COVID-19. Nguy cơ sẽ tăng dần theo mức độ trầm trọng và thời điểm bị nhiễm, tức là sẽ tăng dần từ khi không triệu chứng đến lúc nhập viện. Đặc biệt, tỷ lệ cao nhất ở bệnh nhân được đưa vào phòng hồi sức cấp cứu.

2. F0 lành bệnh có thể mắc những bệnh lý tim mạch nào?

ThS.BS Đặng Huỳnh Anh Thư trả lời: Có rất nhiều rối loạn tim mạch có thể xảy ra và phần lớn là biến chứng của các rối loạn tim mạch xảy ra ở giai đoạn cấp. Chẳng hạn, bệnh nhân mắc COVID-19 bị viêm cơ tim hoặc viêm màng ngoài tim, hậu quả sẽ dẫn đến suy tim và nguy cơ rối loạn nhịp tim. Thứ 2, trong quá trình bệnh nhân nhiễm COVID-19 cấp đã làm tăng quá trình tạo thành huyết khối tĩnh mạch, từ đó dẫn đến tắc mạch máu tim hay gọi là nhồi máu cơ tim, hoặc tắc ở não sẽ dẫn đến đột quỵ não, ở phổi gây thuyên tắc phổi. Thứ 3, xuất hiện rối loạn hệ thần kinh tự trị khiến người bệnh khó thở, đau ngực, hồi hộp, đánh trống ngực hoặc tim đập nhanh khi thay đổi tư thế. Tại Mỹ đã tiến hành một nghiên cứu lớn trên 1.5 vạn người hậu COVID-19, nhận thấy rằng rối loạn biến chứng tim mạch tăng 4% so với người không nhiễm COVID-19. Mặc dù con số khá nhỏ nhưng so với tổng tỷ lệ người mắc COVID-19 hiện nay rất lớn, nên nó vẫn được xem là gánh nặng về y tế, kinh tế xã hội nói chung. Kết luận, ở những người hậu COVID-19, nguy cơ bị rối loạn nhịp tim cao gấp 1.7 lần, và nguy cơ hình hành cục máu đông trong mạch máu tăng gấp 2.4 lần so với những người bình thường.

3. Nguyên nhân COVID-19 ảnh hưởng đến tim mạch?

ThS.BS Đặng Huỳnh Anh Thư trả lời: Khi SARS-COV-2 vào cơ thể, để có thể xâm nhập đến các tế bào buộc virus phải đi qua thụ thể ACE2. Trong khi đó, thụ thể ACE2 lại hiện diện ở nhiều tế bào bên trong cơ thể, không riêng tế bào phổi, nên nó sẽ gây tổn thương đa cơ quan cùng một lúc. Tùy theo mật độ thụ thể ACE2 nằm ở cơ quan nào nhiều, bệnh nhân sẽ có những biểu hiện rối loạn rõ ràng ở cơ quan đó. Cụ thể, sẽ cao ở phổi, tim, hệ thống mạch máu, thận, tiêu hóa,… nên người bệnh sẽ thấy các triệu chứng nổi trội tại các cơ quan này. Tình trạng nhiều người sau khi test 1 vạch nhưng vẫn còn triệu chứng là do hậu quả, biến chứng sau khi nhiễm COVID-19 đợt cấp. Chẳng hạn, sau tình trạng viêm cơ tim sẽ để lại sẹo và dẫn đến rối loạn nhịp tim, tăng khả năng nguy cơ rung nhĩ dẫn đến hình thành huyết khối ở người bệnh. Cục huyết khối này sẽ di chuyển đến não và gây đột quỵ não, hoặc nhồi máu cơ tim.

4. Đối tượng dễ bị nhồi máu cơ tim hậu COVID-19?

ThS.BS Đặng Huỳnh Anh Thư trả lời: Đối với các rối loạn tim mạch nói chung, nguy cơ sẽ không chừa một ai, bất kể tuổi tác, chủng tộc, giới tính, có hay không có yếu tố nguy cơ tim mạch trước đó. Vì vậy, rối loạn tim mạch có thể gặp ở những người trẻ, người thường xuyên tập thể dục, không hút thuốc, béo phì, tăng huyết áp, tiểu đường,… Tuy nhiên, may mắn các rối loạn nặng nề như nhồi máu cơ tim, đột quỵ tỷ kệ xảy ra rất ít.

Khả năng rối loạn nhịp tim có thể xảy ra ở mọi đối tượng sau mắc COVID-19

Trước đó, vào thời điểm dịch bắt đầu bùng phát với biến cố tim mạch lớn, giới y khoa rất lo sợ rằng những biến cố cấp này liệu có tồn tại về sau. Nhưng qua các nghiên cứu, khảo sát và theo dõi bệnh nhân trong hơn 1 năm nhận thấy các biến cố về nhồi máu cơ tim và đột quỵ rất ít xảy ra. Biến cố nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ nguy cơ sẽ tùy thuộc vào bệnh lý nền tim mạch có sẵn hoặc yếu tố nguy cơ có sẵn như thiếu máu cơ tim, rối loạn nhịp tim, hẹp hở van tim có nguy cơ cao hình thành huyết khối hoặc bệnh nhân lớn tuổi (có tăng huyết áp, tiểu đường, bệnh mãn tính,…), đã nằm ICU trong thời gian mắc COVID-19.

5. F0 triệu chứng nhẹ có cần lo sợ nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ hậu COVID-19?

ThS.BS Đặng Huỳnh Anh Thư trả lời: Nếu là người không có yếu tố nguy cơ đột quỵ, bệnh lý tim mạch hay tăng huyết khối (lớn tuổi, có tăng huyết áp, tiểu đường, mỡ máu cao) và trong lúc mắc COVID-19 bị triệu chứng nhẹ hoặc không triệu chứng thì nguy cơ đột quỵ sẽ khá thấp.

6. Dấu hiệu nhận biết nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ?

ThS.BS Đặng Huỳnh Anh Thư trả lời: Triệu chứng nhồi máu cơ tim cấp, bao gồm:

  • Đau thắt ngực đột ngột, dữ dội, cảm giác ngực bị bóp chặt.
  • Đau lan lên cổ, vai, cánh tay, sau lưng.
  • Thời gian đau ngực kéo dài hơn 20 phút.
  • Nếu bệnh nhân từng có cơn đau ngực trước đó, thì cơn đau ngực lần này sẽ nhiều hơn về cường độ, kéo dài về tần số và thời gian.

Triệu chứng đột quỵ sẽ gồm:

  • Mất thăng bằng
  • Mắt đột ngột nhìn khó hoặc mờ
  • Mặt bị sụp mi hoặc tê ở vùng mặt, cười miệng méo 1 bên.
  • Tay bị tê yếu
  • Dơ 2 tay lên cao, 1 tay sẽ tự rơi xuống mà không kiểm soát được.
  • Nói lắp, nói đớ.

Cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ đều là biến cố cấp nặng nề, quan trọng cần nhận biết sớm dấu hiệu để tới bệnh viện cấp cứu sớm nhất.

7. F0 nào cần tầm soát hậu COVID-19 và thực hiện xét nghiệm gì?

ThS.BS Đặng Huỳnh Anh Thư trả lời: Với F0 có bệnh lý tim mạch hoặc có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch, thì dù mắc COVID-19 nhẹ hay nặng đều phải kiểm tra tim mạch định kỳ mỗi 6 tháng hoặc tối thiểu 1 năm 1 lần. Với F0 bị COVID-19 nặng cần nhập viện, ngay sau khi khỏi bệnh nên tầm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch. Khi người bệnh đến khám, đầu tiên bác sĩ sẽ thăm khám, kiểm tra chung về huyết áp, tiền sử bệnh của bản thân, gia đình, từ đó giúp đánh giá nguy cơ tim mạch hiện hữu của người bệnh. Thứ 2, đo điện tâm đồ giúp phát hiện xem người bệnh có thiếu máu cơ tim tiềm ẩn hay xuất hiện rối loạn nhịp tiềm ẩn nguy cơ đột quỵ, chẳng hạn rung nhĩ. Nếu có rối loạn nhịp sẽ theo dõi điện tâm đồ 24 tiếng để phát hiện các rối loạn nhịp có thể xảy ra ban ngày, ban đêm. Thứ 3, siêu âm tim giúp đánh giá khả năng co bóp cơ tim hoặc đánh giá bệnh lý van tim trước đó để phát hiện sớm. Thứ 4, xét nghiệm máu để phát hiện tiểu đường, mỡ máu – yếu tố tạo nên biến cố tim mạch hoặc huyết khối. Thứ 5, tùy bệnh nhân sẽ cần chỉ điểm suy tim bằng xét nghiệm BNP xem có tình trạng huyết khối hay tổn thương cơ tim không.

8. Phương pháp điều trị nhồi máu cơ tim, đột quỵ hậu COVID-19?

ThS.BS Đặng Huỳnh Anh Thư trả lời: Thật ra, không có sự khác biệt trong điều trị nhồi máu cơ tim hay đột quỵ ở giai đoạn hậu COVID-19. Tức là trước đó người bệnh mắc hoặc không mắc COVID-19 thì việc điều trị nhồi máu cơ tim hay đột quỵ sẽ không khác nhau. Điều quan trọng nhất là bệnh nhân cần nhanh chóng đến bệnh viện để cấp cứu kịp thời, dựa trên cơ sở nguyên nhân chính của nhóm bệnh này là huyết khối, làm bít tắc mạch máu ở não (đột quỵ não) hoặc ở tim (nhồi máu cơ tim). Việc điều trị sẽ tái lưu thông tại mạch máu đang bị bít tắc. Tùy theo dạng bệnh, ví dụ nhồi máu cơ tim ST chênh lên hoặc ST chênh xuống hoặc đột quỵ mà sẽ có phương pháp tái lưu thông mạch máu phù hợp. Chẳng hạn, đặt stent hoặc thuốc chống tiêu sợi huyết để làm tan huyết khối. Ngoài ra, việc quyết định lựa chọn sẽ tùy thuộc vào biến cố và thời gian người bệnh đến cơ sở y tế. Do đó, khi xuất hiện triệu chứng người bệnh cần đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt, thì khả năng tái lưu thông mạch máu sẽ cao hơn. Sau khi tái lưu thông mạch máu, bệnh nhân sẽ được điều trị nội khoa, tức là dùng thuốc để duy trì lưu thông mạch máu. Ví dụ, thuốc chống kết tập tiểu cầu để hạn chế tạo huyết khối mới và duy trì sự thông thoáng của stest mới đặt, hoặc sử dụng thuốc chống mỡ máu, làm chậm nhịp tim hay nhóm thuốc cải thiện chức năng nội mô của mạch máu. Và phần lớn các thuốc này cần duy trì trong cuộc sống sau này của bệnh nhân.

9. Bí quyết phòng ngừa biến chứng nhồi máu cơ tim, đột quỵ hậu COVID-19?

ThS.BS Đặng Huỳnh Anh Thư trả lời: Thứ nhất, tuân thủ điều trị bệnh nền sẵn có. Ví dụ, nếu đã bị thiếu máu cơ tim, rung nhĩ, hẹp mạch máu não, cần tuân thủ phương pháp điều trị của bác sĩ để đề phòng nguy cơ hình thành huyết khối. Thứ 2, kiểm soát yếu tố nguy cơ tim mạch có thể cải thiện. Ví dụ, kiểm soát huyết áp, tiểu đường, mỡ máu, cân nặng,… Thứ 3, áp dụng lối sống lành mạnh như ăn giảm mặn, giảm mỡ, tăng rau xanh, tập thể dục thường xuyên, bỏ hút thuốc lá,…

Kiểm soát các yếu tố nguy cơ và thay đổi chế độ ăn uống lành mạnh giúp duy trì sức khỏe hậu COVID-19

Thứ 4, với bệnh nhân bị rối loạn hệ thống thần kinh tự trị, xuất hiện triệu chứng hụt hơi, không dung nạp gắng sức so với trước đó, và do bệnh nhân không hoạt động thể lực trong thời gian dài, thì cần áp dụng vật lý trị liệu hoặc phục hồi chức năng tim mạch. Tuy nhiên, trước đó người bệnh cần thực hiện 1 nghiệm pháp gắng sức hô hấp tim mạch, bằng cách đạp trên xe đạp điện hoặc chạy bộ trên thảm lăn, bác sĩ sẽ theo dõi xem khi gắng sức tối đa có xuất hiện bệnh lý nào khác. Từ đó giúp bệnh nhân biết được tập luyện thể thao ở cường độ nào sẽ phù hợp với tình trạng cơ thể. Thứ 5, rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả vắc xin đối với biến chứng hậu COVID-19. Nếu tiêm đúng và đủ liều sẽ hạn chế rối loạn trong giai đoạn hậu COVID-19. Thứ 6, tránh nhiễm hoặc tái nhiễm COVID-19 bằng cách tuân thủ 5K của Bộ Y tế. Tóm lại, mặc dù đến thời điểm hiện tại chúng ta biết rất nhiều về COVID, nhưng một số nguyên nhân gốc rễ của hậu COVID-19 vẫn chưa được giải đáp hoàn toàn, và mỗi biến chủng mưới của SARS-COV-2 sẽ gây ra rối loạn khác nhau và hậu quả biến chứng cũng khác nhau. Vì vậy, bằng mọi cách chúng ta hãy cố gắng không nhiễm hoặc không tái nhiễm trở lại.

Bình Phương, benhdotquy.net

Kết quả chụp mạch máu “có hiệu lực” trong bao lâu?

Kết quả chụp mạch máu “có hiệu lực” trong bao lâu?

Kết quả chụp mạch máu là căn cứ quan trọng giúp bác sĩ chẩn đoán và theo dõi bệnh lý tim mạch, đột quỵ. Tuy nhiên, nhiều người vẫn băn khoăn liệu những hình ảnh này có thể sử dụng trong bao lâu trước khi cần chụp lại. Thực tế, “giá trị” của kết quả không phải lúc nào cũng cố định, mà phụ thuộc vào diễn tiến bệnh và tình trạng sức khỏe của từng người.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ