Đau thắt ngực có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim không?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương – bệnh viện Trưng Vương cho biết, các cơn đau thắt ngực không ổn định vô cùng nguy hiểm, vì nó không chỉ gây ra nhồi máu cơ tim cấp và khiến người bệnh đột tử nếu không được cấp cứu kịp thời.

19-10-2022 15:09
Theo dõi trên |

1. Đau thắt ngực và dấu hiệu để nhận biết

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Đau ngực được định nghĩa là cảm giác đau ở vùng ngực từ phía trên cơ hoành, mũi ức đến ngang vai. Triệu chứng có thể xuất hiện đột ngột hay tái diễn, biểu hiện với nhiều mức độ từ âm ỉ đến đau thắt như dao đâm, có thể đi kèm với các triệu chứng khác như khó thở, ho, ợ chua…Đau ngực rất thường gặp, có thể xảy ra ở bất kỳ ai, từ trẻ đến già, do rất nhiều bệnh lý gây ra. Trong đó, cơn đau ở ngực với cảm giác đau thắt, mang tên “cơn đau thắt ngực” là một triệu chứng liên quan mật thiết với bệnh tim thiếu máu cục bộ. Đau thắt ngực là thuật ngữ dùng để chỉ cơn đau hoặc khó chịu ở vùng ngực, xảy ra khi khả năng cung cấp máu của động mạch vành không có đủ máu đến nuôi tim, thường do mảng xơ vữa trong thành mạch máu. Những mảng xơ vữa này làm hẹp động mạch và hạn chế cung cấp máu cho tim, đặc biệt khi gắng sức và xúc động mạnh. Khi cơn đau thắt ngực xuất hiện, bệnh nhân cảm giác như đang có một áp lực rất lớn đè ép lên vùng ngực, đôi khi bệnh nhân mô tả cảm giác “đau thắt” dưới dạng: đè nặng, bóp nghẹt, khó chịu, nóng bỏng, xiết chặt, tức, đầy đầy…vị trí đau thường ở sau xương ức hay ngực trái, có thể lan tới cánh tay, ít hơn tới 2 vai, hàm dưới, bụng nhưng không lan xuống dưới rốn. Cơn đau thường xuất hiện ban ngày, lúc gắng sức hoặc xúc động, đang ăn hoặc thời tiết lạnh, kéo dài vài phút đến 10-15 phút, hiếm khi trên 30 phút. Triệu chứng giảm dần và biến mất khi nghỉ ngơi hoặc khi ngậm nitroglycerin.

Đau thắt ngực là một loại khó chịu ở ngực do máu lưu thông kém qua các mạch máu của cơ tim. Đau thắt ngực là một loại khó chịu ở ngực do máu lưu thông kém qua các mạch máu của cơ tim.

2. Đau thắt ngực có bao nhiêu loại và chúng xảy ra khi nào?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Xét về đặc điểm – tính chất của cơn đau thì cơn đau thắt ngực được chia làm hai loại: cơn đau thắt ngực điển hình và không điển hình. Cơn đau thắt ngực điển hình thì giống như triệu chứng đã mô tả phía trên. Cơn đau thắt ngực điển hình biểu hiện bằng cảm giác khó chịu ở ngực, hàm, vai, lưng hoặc cánh tay, triệu chứng gia tăng khi gắng sức hoặc stress tình cảm, biến mất khi ngậm nitroglycerin. Tuy nhiên, không phải lúc nào cơn đau thắt ngực cũng điển hình như vậy, mà thường gặp hơn là những cơn đau thắt ngực không điển hình, và những triệu chứng tương đương với cơn đau thắt ngực. Theo đó, bệnh nhân có thể chỉ có cảm giác khó thở khi gắng sức, rất giống với bệnh lý phổi tắc nghẽn mạn tính; hay đau thượng vị khi gắng sức, rất giống với cơn đau dạ dày, và có khi chỉ là cảm giác mệt, giảm dung nạp với gắng sức. Y khoa ghi nhận nữ giới thường gặp các cơn đau thắt ngực không điển hình hơn là nam giới. Xét về mức độ nguy hiểm của cơn đau thì cơn đau thắt ngực được chia làm 4 loại: – Đau thắt ngực ổn định Là loại phổ biến nhất, cơn đau thường xuất hiện ở vùng sau của xương ức, có thể lan xuất cánh tay, lưng và các bộ phận khác. Triệu chứng xảy ra khi người bệnh hoạt động gắng sức như đi bộ hoặc leo cầu thang vì lúc này tim cần nhiều oxy hơn để hoạt động. Điều may mắn, đau thắt ngực ổn định thường có thể dự đoán trước và giảm sau khi nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc giãn mạch. – Đau thắt ngực không ổn định Cơn đau thường xuất hiện dữ dội, kéo dài hơn và có tần suất ngày càng nhiều với mức độ đau tăng dần, thậm chí trở nên nghiêm trọng trong một thời gian ngắn. Các cơn đau thắt ngực không ổn định vô cùng nguy hiểm vì nó không chỉ gây ra nhồi máu cơ tim cấp mà có thể khiến người bệnh đột tử nếu không được cấp cứu kịp thời. Thậm chí, ở nhiều trường hợp cấp cứu kịp thì khả năng gặp di chứng cũng rất nặng nề. >>> Xem thêm: Cơn đau thắt ngực không ổn định nguy hiểm thế nào? – Đau thắt ngực Prinzmetal Là cơn đau hiếm gặp, các cơn co thắt thường xuất hiện một cách đột ngột vào lúc nửa đêm khi bạn đang ngủ, thường sẽ kéo dài đến 30 phút và có xu hướng trở nên nghiêm trọng, tuy nhiên triệu chứng có thể giảm khi người bệnh uống thuốc điều trị. – Đau thắt vi mạch máu Cơn đau xuất hiện trong thời gian dài hơn và làm tổn thương tim nghiêm trọng hơn so với các cơn đau thắt ngực khác. Triệu chứng kèm theo như hơi thở ngắn, khó ngủ, mệt mỏi, thiếu năng lượng và khởi phát do căng thẳng, stress tâm lý,…

3. Yếu tố nguy cơ khiến một người bị đau thắt ngực?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Yếu tố nguy cơ khiến 1 người dễ bị đau thắt ngực chính là yếu tố nguy cơ của xơ vữa động mạch vành. Yếu tố nguy cơ là các yếu tố liên quan với sự gia tăng khả năng bị mắc bệnh. Một người mang một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ nào đó có nghĩa là có sự gia tăng khả năng mắc bệnh của người đó chứ không phải bắt buộc là chắc chắn sẽ bị bệnh. Thường thì các yếu tố nguy cơ hay đi kèm nhau, thúc đẩy nhau phát triển và làm nguy cơ bị bệnh tăng theo cấp số nhân. Các yếu tố nguy cơ bị bệnh mạch vành là: – Các yếu tố nguy cơ không thay đổi được:

  • Tuổi tác: Động mạch ở người lớn tuổi rất dễ bị tổn thương và trở nên hẹp hơn.
  • Giới tính: Nam giới có nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành cao hơn nữ giới.
  • Tiền sử gia đình: Nếu có người thân mắc bệnh tim mạch, đột quỵ thì nguy cơ bạn cũng mắc các bệnh này cao hơn.

– Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được:

  • Tăng huyết áp.
  • Hút thuốc lá, rượu bia.
  • Tăng cholesterol máu (lượng mỡ trong máu cao).
  • Đái tháo đường, kháng insulin.
  • Thừa cân, béo phì.
  • Lười vận động.

4. Nhồi máu cơ tim là gì?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Nhồi máu cơ tim cấp (đột quỵ tim) là tình trạng cơ tim bị thiếu máu nuôi và hoại tử do mạch vành (mạch máu nuôi cơ tim) bị tắc nghẽn đột ngột bởi cục huyết khối trong lòng mạch. Nguyên nhân gây ra nhồi máu cơ tim cấp là do mảng xơ vữa trong lòng mạch vành bị nứt hoặc vỡ, các tế bào máu gồm tiểu cầu và hồng cầu đến bám vào, tạo thành cục huyết khối gây bít tắc đột ngột lòng mạch, ngưng cấp máu nuôi cơ tim phía xa, dẫn đến cơ tim bị thiếu máu nuôi. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ đưa đến hoại tử cơ tim, gây suy tim hoặc đột tử.

Nhồi máu cơ tim cấp là hoại tử cơ tim do tắc nghẽn động mạch vành. Nhồi máu cơ tim cấp là hoại tử cơ tim do tắc nghẽn động mạch vành.

5. Dấu hiệu cảnh báo nhồi máu cơ tim cấp

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Nhồi máu cơ tim có thể xảy ra bất ngờ, nhưng có những trường hợp được cảnh báo trước hàng giờ, hàng ngày, hàng tuần bằng các dấu hiệu như:

  • Cơn đau thắt ngực. Trong đó cơn đau thắt ngực ổn định là biểu hiện của động mạch vành bị hẹp đáng kể nhưng chưa tắc hẳn, trong khi cơn đau thắt ngực không ổn định là biểu hiện của mảng xơ vữa mất ổn định, động mạch vành có khả năng tắc nghẽn hoàn toàn dòng máu nuôi cơ tim đưa đến nhồi máu cơ tim cấp. Do đó cơn đau thắt ngực không ổn định là triệu chứng cấp cứu, cần can thiệp xử lý sớm tránh dẫn đến nhồi máu cơ tim. Cơn đau thắt ngực không ổn định xuất hiện đột ngột không liên quan gắng sức, thậm chí đang nghỉ ngơi, cơn đau lan tỏa kéo dài trên 20 phút, không giảm với nghỉ ngơi và dùng thuốc giãn mạch vành.
  • Một số trường hợp đặc biệt như người cao tuổi, phụ nữ hoặc bệnh nhân đái tháo đường có thể không có triệu chứng đau ngực, nhưng có triệu chứng tương đương là khó thở, thay đổi tri giác, ngất hoặc tụt huyết áp < 90/60 mmHg.
  • Không phải ai cũng có các triệu chứng giống nhau. Một số người đau thắt ngực nhẹ, một số người đau thắt ngực nặng, một số khác xuất hiện dấu hiệu đầu tiên là ngưng tim đột ngột.

6. Làm sao xác định người bệnh bị nhồi máu cơ tim hay đau thắt ngực?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Như đã trình bày ở trên, một người bị nhồi máu cơ tim cấp có thể có biểu hiện đau thắt ngực từ nhẹ đến nặng, có khi biểu hiện đầu tiên là ngưng tim đột ngột, cũng có khi triệu chứng lại là đau thắt ngực không điển hình. Để xác định được được người bệnh đang bị nhồi máu cơ tim chứ không phải đau thắt ngực, bác sĩ sẽ cần đến các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán, bao gồm:

  • Đo điện tâm đồ: ghi nhận được hình ảnh của nhồi máu cơ tim giai đoạn sớm, giai đoạn muộn, hình ảnh thiếu máu cơ tim
  • Xét nghiệm máu: khi bị nhồi máu cơ tim, tim bạn sẽ phóng thích ra những chỉ điểm sinh học (ví dụ: Troponin T hoặc I). Nếu những chỉ điểm sinh học này có trong máu, bạn có thể bị nhồi máu cơ tim.
  • Siêu âm tim: ghi nhận hình ảnh một vùng cơ tim giảm động hay vô động do nhồi máu, do hoại tử.
  • Chụp động mạch vành tim: bác sĩ sẽ đặt một ống mỏng trong mạch máu ở tay hoặc ở đùi. Sau đó đưa ống này lên tim. Tiếp theo, bác sĩ sẽ bơm thuốc cản quang để xem mạch máu nuôi tim. Phương pháp này giúp phát hiện động mạch nuôi tim của bạn có bị tắc nghẽn hay không.
  • Chụp cắt lớp điện toán đa lát cắt (MSCT) với thuốc cản quang: có thể phát hiện mạch máu nuôi tim bị tắc nghẽn và cục máu đông trong động mạch phổi và một số nguyên nhân khác.

Với người bệnh, nếu cơn đau thắt ngực xuất hiện mà kèm các triệu chứng sau thì cần gọi ngay cấp cứu vì nhiều khả năng đó là nhồi máu cơ tim hơn là cơn đau thắt ngực ổn định:

  • Nếu cơn đau ngực mới xuất hiện hoặc mức độ nặng.
  • Xảy ra đi kèm với triệu chứng khó thở, vã mồ hôi
  • Kéo dài hơn 20 phút.
  • Đau ngực nặng không giảm với nghỉ ngơi hay xịt nitrogLycerin.
  • Cơn đau ngực làm bạn sợ hãi hoặc lo lắng.

7. Xử trí sao khi gặp người bị nhồi máu cơ tim?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Nhồi máu cơ tim là tình trạng y tế khẩn cấp, các cơ tim có thể đang chết đi từng phút và không thể hồi phục được. Do đó, người bệnh cần được điều trị khẩn trương để tăng cơ hội sống và giới hạn tình trạng tổn thương tim. Nếu bạn nghĩ bạn hoặc một người xung quanh đang có các dấu hiệu của Nhồi máu cơtim, nên nhanh chóng gọi xe cấp cứu hoặc nhờ bạn bè, người thân đưa đến cơ sở y tế gần nhất. Khi đến khoa cấp cứu, hãy nói ngay là đang bị Nhồi máu cơ timđể được chú ý và can thiệp ngay lập tức. Để quá trình điều trị được thuận lợi, cần cung cấp cho bác sĩ một số thông tin như: Cơn đau thắt ngực bắt đầu từ lúc nào? Tính chất cơn đau thay đổi như thế nào từ khi bắt đầu? Các bệnh đang mắc phải cùng các thuốc đang dùng thường xuyên để điều trị? Các thuốc đã dùng từ khi xuất hiện cơn đau? Trong thời gian chờ đợi đưa đến cơ sở y tế, có thể áp dụng một số cách sơ cứu người bị nhồi máu cơ tim như sau:

  • Nới rộng quần áo ở cổ, ngực, bụng, ngồi hoặc nằm ở tư thế thoải mái, đầu và vai được nâng đỡ, đầu gối gấp để giảm gánh nặng cho tim. Cố gắng giữ tâm trạng bình tĩnh, tránh hoảng loạn.
  • Sử dụng thuốc aspirin: Nhai một liều aspirin dạng viên nén (300mg) để giúp làm tan cục máu đông và làm giảm thiểu tổn thương cơ tim. Không được dùng trong trường hợp bị dị ứng hoặc có các chống chỉ định đặc biệt mà bác sĩ không cho sử dụng.
  • Dùng Nitroglycerin hoặc các thuốc khác đã được bác sĩ kê đơn trước đó để sơ cứu người bị nhồi máu cơ tim. Không dùng các thuốc tim mạch của người khác vì có thể khiến bệnh nhân gặp các tình huống nguy hiểm hơn.
  • Nếu tình trạng của bệnh nhân nguy kịch (bất tỉnh, ngưng tim ngưng thở) hãy tiến hành hồi sinh tim phổi (CPR) cho bệnh nhân.

Khi cơn nhồi máu cơ tim xảy ra, sẽ rất khó để lên kế hoạch phải làm gì để sơ cứu người bị nhồi máu cơ tim, do đó nếu bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch và đã từng có những cơn đau thắt ngực trước đó, nên chuẩn bị các phương án trước khi nhồi máu cơ timxảy ra như: Số điện thoại cấp cứu của cơ sở y tế gần nhất, số điện thoại người thân sẽ hỗ trợ, các thuốc điều trị luôn cần mang theo bên người…

8. Đau thắt ngực được điều trị bằng phương pháp nào? 

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Đối với điều trị cơn đau thắt ngực do bệnh mạch vành thì có 2 phương pháp chính: – Điều trị nội khoa: Các nhóm thuốc thường được sử dụng bao gồm:

  • Thuốc hạ mỡ máu: Giúp giảm cholesterol máu, hạn chế sự hình thành mảng xơ vữa.
  • Thuốc chống kết tập tiểu cầu: Ngăn chặn hình thành cục máu đông, giảm nguy cơ xảy ra nhồi máu cơ tim.
  • Thuốc hạ huyết áp: Giảm gánh nặng cho tim và làm ổn định nhịp tim.
  • Thuốc giãn mạch: Cải thiện tình trạng hẹp mạch vành, giảm nhanh triệu chứng đau thắt ngực.

Thuốc thường được sử dụng để điều trị các cơn đau thắt ngực Thuốc thường được sử dụng để điều trị các cơn đau thắt ngực

– Điều trị can thiệp: gồm can thiệp qua da hoặc phẫu thuật.

  • Can thiệp động mạch vành qua da (PCI): Nong đoạn động mạch vành bị hẹp, đặt stent để tái lưu thông máu lại bình thường, giải quyết tình trạng tắc nghẽn do các mảng xơ vữa, giảm đau thắt ngực và nguy cơ nhồi máu cơ tim mà không phải mổ.
  • Phẫu thuật bắc cầu mạch vành (CABG): Bác sĩ dùng một đoạn động hoặc tĩnh mạch nối từ nguồn cung cấp máu đến đoạn động mạch vành phía sau đoạn động mạch vành bị hẹp. Tĩnh mạch, động mạch ghép có thể lấy ở chân, cổ tay, động mạch vú bên trong thành ngực.

Trong đó, điều trị nội khoa bằng thuốc vẫn là lựa chọn đầu tiên đối với cơn đau thắt ngực ổn định thuộc hội chứng mạch vành mạn, mạch vành tắc hẹp mạn tính. Chỉ định nong và đặt stent mạch vành là lựa chọn hàng đầu đối để cấp cứu các trường hợp rơi vào hội chứng vành cấp (nhồi máu cơ tim cấp, cơn đau thắt ngực không ổn định) nhằm cứu lấy quả tim đang hoại tử từng vùng. Những trường hợp bệnh mạch vành mạn mà mạch vành bị tắc hẹp trên 70% gây ra triệu chứng cho người bệnh thì cũng có chỉ định nong và đặt stent mạch vành. Bệnh mạch vành được đặt stent không hề làm giảm tuổi thọ của người bệnh, ngược lại, stent mạch vành đóng vai trò như là một giá đỡ giúp lòng mạch luôn được mở rộng và phục hồi quá trình lưu thông máu tới cơ tim, từ đó giúp giảm biến chứng của bệnh, giảm tỉ lệ tử vong (kéo dài tuổi thọ) và nâng cao chất lượng cuộc sống. >>> Xem thêm: Nhồi máu cơ tim, đã đặt stent có thể phục hồi không?

9. Khi đau thắt ngực đã gây biến chứng nhồi máu cơ tim, việc điều trị và tiên lượng ra sao?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Với những bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim, bác sĩ sẽ cần điều trị tái lưu thông động mạch vành bị tắc nghẽn cấp cứu: Các phương pháp điều trị tái lưu thông mạch vành bị tắc nghẽn trong nhồi máu cơ tim cấp gồm:

  • Thuốc tiêu sợi huyết (streptokinase, rt-PA): Sử dụng khi bệnh nhân đến bệnh viện sớm và bệnh viện không có phòng thông tim;
  • Chụp mạch vành, nong đặt stent;
  • Mổ bắc cầu động mạch vành.

Bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cần được điều trị và chăm sóc lâu dài để tránh tái phát và biến chứng về sau. Bệnh nhân cũng sẽ cần duy trì các thuốc cơ bản trong điều trị bệnh động mạch vành như trên, chỉ có điều khác biệt là bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cần uống 2 loại thuốc chống kết tập tiểu cầu tối thiểu trong vòng 1 năm. Sau đó, duy trì ít nhất 1 loại thuốc chống kết tập tiểu cầu lâu dài để phòng ngừa huyết khối trong stent hoặc tái hẹp mạch vành. Tỉ lệ điều trị thành công và phục hồi sau cơn nhồi máu cơ tim phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm: Độ rộng vùng nhồi máu (nói đúng hơn, khối lượng vùng cơ tim hoại tử) càng lớn, có huyết áp hạ > 30 mmHg, có sốt, sự xuất hiện các biến chứng như loạn nhịp tim (nhất là rung thất) ngay trong vòng 2 giờ đầu tiên, suy tim sung huyết (phù phổi cấp), sốc tim, vỡ tim, huyết khối/thuyên tắc thì tiên lượng xếp vào loại xấu, nguy cơ tử vong cao. Do đó cùng là nhồi máu cơ tim cả nhưng tiên lượng khác xa nhau, và cả độ vất vả và khó khăn chữa trị khác xa nhau, quy trình điều trị phục hồi chức năng tim mạch cũng khác nhau (ví dụ như ai cần được vận động sớm, ai thì cần trì hoãn) Nhìn chung, nếu không được điều trị kịp thời, tỉ lệ tử vong trong 4 tuần lễ đầu sau cơn nhồi máu cơ tim là 30 – 40%, trong đó ½ dồn vào giờ đầu, thường là chưa vào viện, mà chủ yếu do rung thất và loạn nhịp tim khác.

10. Thay đổi lối sống như thế nào để ngăn ngừa đau thắt ngực và đau tim?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Ngoài điều trị y tế, người bệnh mạch vành cần thay đổi lối sống để bảo vệ trái tim mình, giảm thiểu các cơn đau thắt ngực xảy ra, giảm nguy cơ vào nhồi máu cơ tim cấp. Người chưa có bệnh mạch vành cũng có thể áp dụng phương pháp sống như vậy để ngăn ngừa bệnh mạch vành, ngăn ngừa cơn đau thắt ngực và đau tim. Đó là ngưng thuốc lá, tập thể dục đều đặn các ngày trong tuần, giảm cân nếu dư cân hay béo phì, chế độ ăn tốt cho tim mạch, giảm rượu bia, giảm thiểu stress trong cuộc sống hàng ngày, tránh thức khuya nếu không cần thiết.Bệnh nhân không tự ý dùng các loại thuốc, bất kể thuốc gì cũng phải có tư vấn của các bác sĩ để tránh các nguy hại cho sức khỏe. Chế độ ăn tốt cho tim mạch là: Nên hạn chế những loại thực phẩm sau: – Thức ăn chứa nhiều dầu mỡ, cholesterol: như các loại thịt đỏ (thịt bò); mỡ, da, phủ tạng động vật; lòng đỏ trứng, gan, đồ ăn chiên xào, nước hầm xương… Đây là nhóm thực phẩm người bệnh mạch vành cần đặc biệt hạn chế bởi chúng có thể làm gia tăng nồng độ cholesterol máu, thúc đẩy sự phát triển của các mảng xơ vữa mạch vành và tăng cao nguy cơ nhồi máu cơ tim. – Muối: Chế độ ăn nhiều muối có thể làm tăng huyết áp, tăng gánh nặng cho tim và gia tăng các biến chứng tim mạch. Vì vậy, người bệnh mạch vành cần ăn hạn chế muối, tránh các thực phẩm chứa nhiều muối như dưa muối, hành muối hoặc các thức ăn chế biến sẵn như pate, lạp xưởng,… – Đồ ăn hoặc thức uống có chứa nhiều đường: như bánh, kẹo, nước ngọt… –  Bia, rượu: tránh sử dụng bởi chúng có thể làm tăng huyết áp, tăng triglyceride máu và gây hại cho tim mạch. Mỗi ngày uống không quá 2 lon bia với nam và 1 lon bia đối với nữ. Nên bổ sung thêm: – Trái cây tươi nhiều màu sắc, rau củ màu đậm như: súp lơ xanh, cải xoăn, cải bó xôi, cam, dưa hấu, quýt, dâu tây, cà rốt,… – Ngũ cốc các loại: gạo lứt, bột yến mạch,… – Nên sử dụng dầu thực vật như dầu lạc, dầu hướng dương,… – Các loại quả hạch: hạnh nhân, hạt điều, quả óc chó,… – Omega – 3 trong các loại cá béo như: cá hồi, cá thu, cá ngừ, Điều trị ổn định các bệnh lý nền: tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu Thăm khám sức khỏe định kỳ từ năm 20 tuổi.

Benhdotquy.net

Người từng đột quỵ nên ăn sáng như thế nào?

Người từng đột quỵ nên ăn sáng như thế nào?

Sau đột quỵ, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi sức khỏe và phòng ngừa tái phát. Trong đó, bữa sáng được xem là “bữa ăn khởi động” cho cả ngày, giúp ổn định đường huyết, huyết áp và cung cấp năng lượng cho não bộ. Tuy nhiên, không ít người sau đột quỵ vẫn giữ thói quen ăn sáng qua loa, ăn quá mặn hoặc dùng thực phẩm chế biến sẵn, làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ