Giảm hiệu quả nhận thức và thay đổi tim mạch ở bệnh nhân sau khi khỏi COVID-19
Trong một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí Healthcare, các nhà nghiên cứu đã đánh giá mối liên hệ giữa suy giảm nhận thức và các biến số chức năng lâm sàng trong giai đoạn sau cấp tính của bệnh COVID-19.
Giảm hiệu quả nhận thức và thay đổi tim mạch ở bệnh nhân sau khi khỏi COVID-19. (Ảnh minh hoạ)
Suy giảm nhận thức bao gồm những khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động thường ngày liên quan đến sự chú ý, tốc độ xử lý và trí nhớ, ảnh hưởng đáng kể đến các khía cạnh cảm xúc và chức năng của chất lượng cuộc sống của bệnh nhân (QOL). Nó đã được thiết lập như một hiệu ứng sau COVID-19 với các biểu hiện thần kinh liên quan như đau đầu, đau cơ, hạ huyết áp, đột quỵ, động kinh,…
Các nghiên cứu trước đây đã báo cáo các triệu chứng tâm lý và hành vi kéo dài ở bệnh nhân COVID-19 nhập viện, bao gồm yếu cơ, trầm cảm, mất ngủ, lo lắng, rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD),…
Rối loạn điều hòa tự chủ như tăng huyết áp và nhịp sinh học những thay đổi có liên quan đến rối loạn chức năng nhận thức. Tuy nhiên, các nghiên cứu quy mô lớn đánh giá tác động và cơ chế của những thay đổi chức năng và lâm sàng đối với sự thuyên giảm chức năng nhận thức sau COVID-19 đã không được tiến hành. Hơn nữa, vẫn chưa rõ liệu suy giảm nhận thức là ảnh hưởng trực tiếp của COVID-19 hay là ảnh hưởng gián tiếp thứ phát sau thở máy, thiếu oxy,…
Các tác giả của nghiên cứu quan sát hiện tại đã điều tra tác động tâm thần kinh của COVID-19 ở những bệnh nhân không mắc các bệnh liên quan tại một đơn vị phục hồi chức năng.
Theo đó, họ đã sàng lọc những bệnh nhân COVID-19 đang dưỡng bệnh bị viêm phổi từ trung bình đến nặng và những người này đã được chuyển đến một trung tâm phục hồi chức năng đa mô thức trong hai tháng. Chương trình phục hồi chức năng phổi (PR) bao gồm các buổi học hàng ngày (6 buổi/tuần), tư vấn tâm lý và chế độ ăn uống, và các bài tập thể chất dựa trên khuyến nghị của Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ / Hiệp hội Hô hấp Châu Âu (ATS / ERS).
Bệnh nhân trong độ tuổi từ 18-65 tuổi không có tiền sử về các rối loạn thần kinh, phổi hoặc tim mạch được đưa vào nghiên cứu. Dữ liệu lâm sàng và nhân khẩu học được thu thập cùng với các cuộc phỏng vấn và đánh giá hồ sơ y tế trong quá khứ.
Tổng số 193 bệnh nhân đã được sàng lọc, trong đó 65 bệnh nhân được đăng ký tham gia nghiên cứu. Trong số này, 2 bệnh nhân đã chọn rút lui trước khi kết thúc nghiên cứu. Do đó, 63 (32,6%) bệnh nhân COVID-19 điều trị (47 nam giới, độ tuổi trung bình 60) đã được đưa vào nghiên cứu cuối cùng.
Hơn 44% bệnh nhân được phân loại là giảm hiệu quả nhận thức (RCE). Những người tham gia có biểu hiện lo lắng cao (55,5%), các triệu chứng trầm cảm (76,2%) và các triệu chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (44,4%). Khoảng 50% bệnh nhân bị giảm hiệu quả nhận thức liên quan đến các chức năng điều hành không gian và lời nói và trí nhớ trong thời gian dài. Kết quả còn cho thấy lần lượt là 76% và 55% bệnh nhân trầm cảm và lo lắng.
Bệnh nhân giảm hiệu quả nhận thức thường xuyên có biểu hiện thay đổi nhịp sinh học và huyết áp (tỷ lệ người không đeo gạc cao hơn đáng kể), nồng độ D-dimer cao hơn, nhiều triệu chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương hơn. Họ cũng bị bệnh nặng và có thời gian mắc bệnh lâu hơn và thường xuyên gặp phải các phàn nàn về nhận thức trong các hoạt động cuộc sống hàng ngày như kém tập trung, khó tiếp thu từ trong bài phát biểu, giảm khả năng ghi nhớ và học hỏi thông tin mới so với các đối tượng có hiệu quả nhận thức bình thường.
Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh mối liên quan của các rối loạn chức năng tự trị như huyết áp và thay đổi nhịp sinh học với suy giảm nhận thức ở bệnh nhân COVID-19 đang điều trị.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trong tương lai với các mẫu lớn hơn và không đồng nhất, liên quan đến nghiên cứu giấc ngủ và hình ảnh thần kinh não với sự theo dõi thường xuyên là cần thiết để làm sáng tỏ tốt hơn các cơ chế của chuỗi COVID-19 tâm thần kinh và xác thực các kết quả nghiên cứu hiện tại.
Thi Nguyên, theo news-medical.net
Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?
Một gói thuốc được quảng cáo “chống đột quỵ cấp tốc”, vài lời truyền miệng trên mạng xã hội và niềm tin rằng có thể “câu giờ” trước khi đến bệnh viện – tất cả đang tạo nên một xu hướng nguy hiểm: người nhà tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc đột quỵ ngay tại nhà hoặc thậm chí ngay trong phòng cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, hành động tưởng như cứu người này có thể khiến bệnh nhân mất cơ hội sống.
Multimedia
Theo dõi trên:Video
Chóng mặt kéo dài, coi chừng đột quỵ: Bác sĩ cảnh báo dấu hiệu dễ nhầm lẫn
Chóng mặt là triệu chứng rất phổ biến, nhưng không phải lúc nào cũng vô hại. Trong nhiều trường hợp, đây có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của đột quỵ, đặc biệt khi kéo dài, dữ dội hoặc kèm theo các biểu hiện bất thường. Các bác sĩ khuyến cáo người dân cần nhận biết đúng để tránh nhầm lẫn nguy hiểm và không bỏ lỡ “thời gian vàng” điều trị.
Sống sót sau đột quỵ, làm gì để không bị lần 2?
Giới trẻ và đột quỵ: Khi lối sống hiện đại trở thành sát thủ âm thầm
Giải mã mối quan hệ nguy hiểm giữa đái tháo đường và đột quỵ
Phòng Tránh Đột Quỵ – Bắt Đầu Từ 5 Bài Tập Đơn Giản
Ngăn đột quỵ ngay từ phút đầu – Những điều nên biết
7 tình huống khiến đường huyết tăng vọt có thể bạn chưa biết















">
">
"> 
