Giảm hiệu quả nhận thức và thay đổi tim mạch ở bệnh nhân sau khi khỏi COVID-19

Trong một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí Healthcare, các nhà nghiên cứu đã đánh giá mối liên hệ giữa suy giảm nhận thức và các biến số chức năng lâm sàng trong giai đoạn sau cấp tính của bệnh COVID-19.

09-03-2022 07:26
Theo dõi trên |

Giảm hiệu quả nhận thức và thay đổi tim mạch ở bệnh nhân sau khi khỏi COVID-19. (Ảnh minh hoạ)

Suy giảm nhận thức bao gồm những khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động thường ngày liên quan đến sự chú ý, tốc độ xử lý và trí nhớ, ảnh hưởng đáng kể đến các khía cạnh cảm xúc và chức năng của chất lượng cuộc sống của bệnh nhân (QOL). Nó đã được thiết lập như một hiệu ứng sau COVID-19 với các biểu hiện thần kinh liên quan như đau đầu, đau cơ, hạ huyết áp, đột quỵ, động kinh,…

Các nghiên cứu trước đây đã báo cáo các triệu chứng tâm lý và hành vi kéo dài ở bệnh nhân COVID-19 nhập viện, bao gồm yếu cơ, trầm cảm, mất ngủ, lo lắng, rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD),…

Rối loạn điều hòa tự chủ như tăng huyết áp và nhịp sinh học những thay đổi có liên quan đến rối loạn chức năng nhận thức. Tuy nhiên, các nghiên cứu quy mô lớn đánh giá tác động và cơ chế của những thay đổi chức năng và lâm sàng đối với sự thuyên giảm chức năng nhận thức sau COVID-19 đã không được tiến hành. Hơn nữa, vẫn chưa rõ liệu suy giảm nhận thức là ảnh hưởng trực tiếp của COVID-19 hay là ảnh hưởng gián tiếp thứ phát sau thở máy, thiếu oxy,…

Các tác giả của nghiên cứu quan sát hiện tại đã điều tra tác động tâm thần kinh của COVID-19 ở những bệnh nhân không mắc các bệnh liên quan tại một đơn vị phục hồi chức năng.

Theo đó, họ đã sàng lọc những bệnh nhân COVID-19 đang dưỡng bệnh bị viêm phổi từ trung bình đến nặng và những người này đã được chuyển đến một trung tâm phục hồi chức năng đa mô thức trong hai tháng. Chương trình phục hồi chức năng phổi (PR) bao gồm các buổi học hàng ngày (6 buổi/tuần), tư vấn tâm lý và chế độ ăn uống, và các bài tập thể chất dựa trên khuyến nghị của Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ / Hiệp hội Hô hấp Châu Âu (ATS / ERS).

Bệnh nhân trong độ tuổi từ 18-65 tuổi không có tiền sử về các rối loạn thần kinh, phổi hoặc tim mạch được đưa vào nghiên cứu. Dữ liệu lâm sàng và nhân khẩu học được thu thập cùng với các cuộc phỏng vấn và đánh giá hồ sơ y tế trong quá khứ.

Tổng số 193 bệnh nhân đã được sàng lọc, trong đó 65 bệnh nhân được đăng ký tham gia nghiên cứu. Trong số này, 2 bệnh nhân đã chọn rút lui trước khi kết thúc nghiên cứu. Do đó, 63 (32,6%) bệnh nhân COVID-19 điều trị (47 nam giới, độ tuổi trung bình 60) đã được đưa vào nghiên cứu cuối cùng.

Hơn 44% bệnh nhân được phân loại là giảm hiệu quả nhận thức (RCE). Những người tham gia có biểu hiện lo lắng cao (55,5%), các triệu chứng trầm cảm (76,2%) và các triệu chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (44,4%). Khoảng 50% bệnh nhân bị giảm hiệu quả nhận thức liên quan đến các chức năng điều hành không gian và lời nói và trí nhớ trong thời gian dài. Kết quả còn cho thấy lần lượt là 76% và 55% bệnh nhân trầm cảm và lo lắng.

Bệnh nhân giảm hiệu quả nhận thức thường xuyên có biểu hiện thay đổi nhịp sinh học và huyết áp (tỷ lệ người không đeo gạc cao hơn đáng kể), nồng độ D-dimer cao hơn, nhiều triệu chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương hơn. Họ cũng bị bệnh nặng và có thời gian mắc bệnh lâu hơn và thường xuyên gặp phải các phàn nàn về nhận thức trong các hoạt động cuộc sống hàng ngày như kém tập trung, khó tiếp thu từ trong bài phát biểu, giảm khả năng ghi nhớ và học hỏi thông tin mới so với các đối tượng có hiệu quả nhận thức bình thường.

Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh mối liên quan của các rối loạn chức năng tự trị như huyết áp và thay đổi nhịp sinh học với suy giảm nhận thức ở bệnh nhân COVID-19 đang điều trị.

Tuy nhiên, các nghiên cứu trong tương lai với các mẫu lớn hơn và không đồng nhất, liên quan đến nghiên cứu giấc ngủ và hình ảnh thần kinh não với sự theo dõi thường xuyên là cần thiết để làm sáng tỏ tốt hơn các cơ chế của chuỗi COVID-19 tâm thần kinh và xác thực các kết quả nghiên cứu hiện tại.

Thi Nguyên, theo news-medical.net

Ngồi lâu, ít vận động: Mối nguy kép cho tim và đường huyết

Ngồi lâu, ít vận động: Mối nguy kép cho tim và đường huyết

Không chỉ người thừa cân, béo phì mới có nguy cơ mắc bệnh tim mạch và rối loạn đường huyết. Việc ngồi lâu, ít vận động trong thời gian dài cũng có thể âm thầm làm suy giảm sức khỏe chuyển hóa, tăng nguy cơ kháng insulin, tiểu đường type 2 và các bệnh lý tim mạch.

Video

Còn 3–4,5 giờ đầu sau đột quỵ có nghĩa là chưa cần vội

Còn 3–4,5 giờ đầu sau đột quỵ có nghĩa là chưa cần vội

Nhiều người cho rằng đột quỵ chỉ cần đến bệnh viện trong vòng 3–4,5 giờ đầu nên chưa cần quá gấp gáp khi xuất hiện triệu chứng. Tuy nhiên, đây là một quan niệm nguy hiểm. Trong đột quỵ, mỗi phút trôi qua có thể khiến hàng triệu tế bào não bị tổn thương không thể phục hồi. “Thời gian vàng” không phải là khoảng thời gian để chờ đợi, mà là khoảng thời gian quý giá để người bệnh được cấp cứu càng sớm càng tốt, giúp tăng cơ hội cứu não, giảm di chứng và nâng cao khả năng hồi phục.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ