Phình động mạch chủ ngực có thể gây đột quỵ, phát hiện sớm được không?

Phình động mạch chủ ngực khi vỡ túi phình có thể gây đột tử, đột quỵ. BS.CK1 Cao Thị Lan Hương hướng dẫn bạn đọc kênh Benhdotquy.net cách phát hiện sớm, những ai nên tầm soát và các phương pháp giữ cho túi phình không vỡ .

24-12-2022 13:54
Theo dõi trên |

1. Phình động mạch chủ ngực là tình trạng thế nào?

Động mạch chủ là động mạch chính và lớn nhất trong cơ thể, dẫn máu từ tim đi nuôi toàn bộ cơ thể. Động mạch chủ lúc chạy trong lồng ngực thì gọi là động mạch chủ ngực. Khi động mạch chủ đi đến bụng, nó được gọi là động mạch chủ bụng. Động mạch chủ bụng cung cấp máu cho phần dưới cơ thể. Trong bụng, ngay phía dưới rốn, động mạch chủ chia thành hai nhánh, được gọi là những nhánh động mạch chậu, mang máu đến cho từng chân. Phình động mạch là sự giãn bất thường của động mạch được định nghĩa là tăng ≥ 50% đường kính so với các đoạn bình thường. Theo đó, phình động mạch chủ ngực là tình trạng kích thước đường kính ngang của động mạch chủ vị trí trên cơ hoành đo được lớn hơn hoặc bằng 1,5 lần so với đường kính của đoạn động mạch chủ còn lại. >> Xem thêm: Phình động mạch chủ bụng nguy hiểm thế nào? Phình động mạch chủ ngực (thoracic aortic aneurysm) thường được chia thành các dạng sau:

+ Phình động mạch chủ ngực dạng túi

Với mặt bên của động mạch chủ phồng lên và không đối xứng. Đây là hiện tượng giả phình động mạch chủ do chấn thương hoặc loét xuyên thấu động mạch chủ gây ra;

+ Phình động mạch chủ ngực dạng hình thoi

Đây là hiện tượng phình thật vì cả 3 lớp của thành động mạch chủ đều bị tổn thương. Động mạch chủ ngực giãn to bất thường một đoạn dài và có liên quan đến toàn bộ chu vi của thành động mạch chủ;

+ Phình động mạch chủ ngực – bụng

Liên quan đến cả hai động mạch chủ ngực xuống và động mạch chủ bụng.

2. Triệu chứng của phình động mạch chủ ngực có dễ nhầm với các bệnh khác không?

Hầu hết phình động mạch chủ ngực thường ít có triệu chứng, chỉ tình cờ phát hiện khi khám sức khỏe định kỳ hoặc chụp X-quang ngực thường quy hoặc đột ngột xuất hiện biến chứng (ví dụ như huyết khối tắc mạch, vỡ, hở van động mạch chủ, bóc tách). Tuy nhiên, một số dấu hiệu cảnh báo xuất hiện ở bệnh nhân có triệu chứng không điển hình dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác như sau: + Triệu chứng do việc túi phình to gây đè ép các cấu trúc lân cận: có thể gây ra đau lưng (do chèn ép cột sống), ho (do chèn ép khí quản), thở khò khè, khó nuốt (do chèn ép thực quản), khàn giọng (do chèn ép thần kinh quặt ngược thanh quản hoặc thần kinh phế vị), đau ngực (do chèn ép động mạch vành), và hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên (gây phù nửa thân trên). + Triệu chứng do sự ăn mòn của phình động mạch vào phổi gây ra ho ra máu hoặc viêm phổi; ăn mòn vào thực quản (thông động mạch chủ – thực quản) gây ra nôn máu số lượng lớn. Bóc tách động mạch chủ biểu hiện với đau ngực như xé, thường lan lên lưng giữa hai xương bả vai. + Thuyên tắc huyết khối có thể gây ra đột quỵ, đau bụng (do thiếu máu treo tràng mạc treo), hoặc tiêu ra máu. + Vỡ túi phình động mạch chủ sẽ biểu hiện bởi đau dữ dội hoặc đau lưng, tụt huyết áp hoặc sốc. Tỉ lệ tử vong khá cao. Chảy máu do vỡ phình thường gặp nhất vào khoang màng phổi hoặc khoang màng tim. Các dấu hiệu khác bao gồm Hội chứng Horner (co đồng tử, sụp mi, giảm tiết mồ hôi) do sự chèn ép các hạch thần kinh giao cảm, sự kéo xuống rõ rệt của khí quản theo nhịp co bóp của tim (giật khí quản), và di lệch khí quản. Sự xung nhịp của ngực hiển thị hay sờ thấy, đôi khi nổi bật hơn xung thần kinh trái, là bất thường nhưng có thể xảy ra.

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương hướng dẫn bạn đọc kênh Benhdotquy.net cách phát hiện sớm, những ai nên tầm soát phình động mạch chủ ngựcBS.CK1 Cao Thị Lan Hương hướng dẫn bạn đọc kênh Benhdotquy.net cách phát hiện sớm, những ai nên tầm soát phình động mạch chủ ngực

3. Nguyên nhân gây phình động mạch chủ ngực là gì?

Hầu hết phình động mạch chủ ngực do: Xơ vữa động mạch: đây chính là nguyên nhân phổ biến nhất được chẩn đoán gây ra chứng phình động mạch chủ ngực. Bệnh rối loạn mô liên kết bẩm sinh (ví dụ, hội chứng Marfan, Hội chứng Ehlers-Danlos, Hội chứng Loeys-Dietz) gây ra hoại tử lớp áo giữa, thay đổi thoái hoá này dẫn đến phình động mạch chủ ngực kéo theo biến chứng bóc tách động mạch chủ và giãn rộng động mạch chủ lên và vòng van động mạch chủ, gây ra hở van động mạch chủ. Hội chứng Marfan gây ra 50% các trường hợp giãn gốc động mạch chủ, nhưng hoại tử lớp áo giữa và các biến chứng của nó có thể xảy ra ở những người trẻ tuổi ngay cả khi không có rối loạn mô liên kết bẩm sinh. Các phình động mạch chủ ngực do nhiễm trùng (mycotic) là hậu quả của nhiễm trùng huyết bắt nguồn từ một nhiễm trùng hệ thống hoặc khu trú (ví dụ, nhiễm trùng, viêm phổi), lan truyền qua đường bạch huyết (ví dụ: lao), hoặc lan truyền trực tiếp (ví dụ, trong viêm xương khớp hoặc viêm màng ngoài tim). Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩnbệnh giang mai là những nguyên nhân không phổ biến. Phình động mạch chủ ngực xảy ra trong một số bệnh lý viêm mạch hệ thống (ví dụ, viêm mạch tế bào khổng lồ, Bệnh viêm mạch Takayasu, viêm đa mạch với u hạt). Chấn thương ngực do vật cùn có thể gây ra tổn thương giả phình mạch do tổn thương thành mạch, dẫn đến thông thương giữa lòng mạch với mô liên kết nằm ngoài và máu rò ra ngoài động mạch chủ; một hốc máu hình thành bên ngoài thành mạch bít điểm rò bằng huyết khối).

4. Những yếu tố làm tăng nguy cơ phình động mạch chủ ngực?

Các yếu tố nguy cơ cho cả phình và bóc tách động mạch chủ ngực bao gồm tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, béo phì và hút thuốc kéo dài. Các yếu tố nguy cơ khác cho phình động mạch chủ ngực bao gồm nhiễm trùng, viêm động mạch chủ, và cao tuổi (tỷ lệ đỉnh ở tuổi 65 đến 70). Tầm quan trọng của các yếu tố di truyền ngày càng được công nhận. Khoảng 10% của bệnh nhân có những thành viên gia đình mắc phình động mạch chủ. Cần lưu ý rằng các bệnh nhân có tiền sử của phình động mạch trong các bộ phận khác đã có khả năng gặp phình động mạch chủ ngực cao hơn. Tỷ lệ phát triển phình động mạch chủ ngực trung bình từ 0,42cm – 0,56cm/năm. Khi kích thước đường kính động mạch chủ ngực đo được càng lớn thì nguy cơ vỡ phình càng tăng và dễ dẫn đến tử vong.

5. Phình động mạch chủ ngực có biến chứng nào nguy hiểm nhất?

Biến chứng nguy hiểm nhất của phình động mạch chủ là vỡ mạch tại vị trí phình. Biến chứng này xảy ra có thể gây tử vong cho bệnh nhân do tình trạng mất máu cấp với các biểu hiện đau tức ngực, khó thở nhiều, da xanh nhợt, tụt huyết áp. Ngoài ra, các biến chứng khác của phình động mạch chủ ngực cũng nguy hiểm không kém, bao gồm: + Tắc động mạch ngoại vi cấp tính: Do tác động của dòng chảy hay ngoại lực, huyết khối trong lòng mạch có thể bong ra, lưu lạc đến mạch ngoại vi gây ra thiếu máu cấp tại các chi, các tạng (tắc mạch máu não là gây đột quỵ nhồi máu não, tắc mạch vành gây nhồi máu cơ tim, tắc động mạch mắt gây mù mắt…). Biến chứng này hiếm gặp nhưng nếu gặp sẽ để lại hậu quả nặng nề. + Phình động mạch chủ dọa vỡ: Đau tại vùng có túi phình là dấu hiệu cảnh báo động mạch chủ sắp vỡ. Đây là một cấp cứu ngoại khoa hoặc can thiệp. + Bóc tách thành động mạch chủ: là một biến chứng nặng nề, điều trị phức tạp, nguy cơ tử vong và biến chứng thuyên tắc mạch rất cao. + Viêm quanh khối phồng: Gây đau âm ỉ, có thể rò rỉ vào các tạng xung quanh (ống tiêu hóa, phổi).

6. Phình động mạch chủ ngực được phát hiện bằng phương tiện gì?

Phình động mạch chủ ngực thường được nghĩ đến đầu tiên khi chụp X-quang ngực thấy trung thất giãn rộng hoặc quai động mạch chủ giãn rộng hoặc siêu âm tim thường quy thấy dãn gốc động mạch chủ. Tuy nhiên, chụp X-quang ngực có độ nhạy kém và không phải là một công cụ chẩn đoán đủ tin cậy. Bất thường trên phim X-quang, hoặc các triệu chứng và dấu hiệu nghi ngờ phình động mạch chủ sẽ được chẩn đoán xác định bằng chụp cắt lớp CTscan (CTA), chụp cộng hưởng từ (MRA), hoặc siêu âm tim qua thực quản (TEE). CTA ngực có thể mô tả kích thước phình mạch, đầu gần và đầu xa, phát hiện rò rỉ, và phát hiện các tổn thương đi kèm. MRA có thể cung cấp các chi tiết tương tự. Siêu âm tim qua thành ngực (TTE) có thể mô tả kích thước và độ dài và phát hiện sự rò rỉ của phình động mạch chủ lên nhưng không đánh giá được động mạch chủ xuống. TEE không thể đánh giá toàn bộ động mạch chủ ngực, nhưng nó có thể hữu ích trong việc phát hiện điểm vào trong bóc tách động mạch chủ.

7. Nếu phát hiện sớm, phình động mạch chủ ngực chưa vỡ thì được điều trị như thế nào?

Mục tiêu của việc điều trị – cả với tiến hành theo dõi bệnh nhân và phẫu thuật – là nhằm giúp túi phình động mạch chủ không bị vỡ. Việc bác sĩ lựa chọn hình thức điều trị nào phụ thuộc vào kích thước của động mạch và quá trình phát triển bệnh. Điều trị nội khoa nếu động mạch chủ ngực phình nhẹ và không có biểu hiện triệu chứng bệnh. Điều trị nội khoa bao gồm kiểm soát huyết áp, nhịp tim, điều trị xơ vữa động mạch. Người bệnh sẽ được cho thực hiện các xét nghiệm hình ảnh định kỳ 6 tháng một lần sau khi được chẩn đoán bệnh, để đánh giá tốc độ tăng kích thước của khối phình Phẫu thuật – can thiệp: nếu đoạn phình động mạch chủ ngực có kích thước từ 1,9 đến 2,2 inch (4,8 đến 5,6 cm) hoặc lớn hơn, hoặc nó phình với tốc độ rất nhanh. Phẫu thuật mở ngực: khi có yêu cầu thay van động mạch chủ hay thay toàn bộ quai động mạch chủ và nối lại các nhánh mạch cấp máu cho não và cấp máu cho tay. Bệnh nhân sẽ được cắt bỏ phần động mạch bị phồng và ghép đoạn động mạch nhân tạo. Can thiệp đặt giá đỡ (stent graft) động mạch chủ: Đây là một kỹ thuật ít xâm lấn, có đường mổ tại đùi. Trong quá trình thực hiện thủ thuật, người bệnh sẽ được gây tê tại chỗ, trong trạng thái tỉnh táo hoàn toàn. Từ đường mổ ở đùi, bác sĩ sẽ sẽ luồn dụng cụ vào mạch máu lên đến vị trí khối phình. Stent graft đặt vào sẽ giúp máu không lưu thông vào khối phình nữa. Đặc biệt, đây là một phương pháp can thiệp hiện đại, ít có biến chứng, hay ảnh hưởng đến các cơ quan trong cơ thể, và có thời gian hồi phục ngắn hơn so với phẫu thuật mổ mở.

8. Sau khi bệnh nhân phình động mạch chủ ngực được ngăn chặn nguy cơ vỡ phình, họ cần lưu ý gì trong ăn uống, sinh hoạt?

Nếu may mắn được điều trị phẫu thuật kịp thời và thành công vỡ túi phình động mạch chủ, bệnh nhân sống sót, thì sau đó người bệnh cần uống thuốc kiểm soát huyết áp, thuốc ngăn ngừa hình thành cục máu đông ở miếng ghép, thuốc điều trị xơ vữa động mạch, bỏ thuốc lá, giảm cân nếu thừa cân béo phì và tập thể dục thể thao – phục hồi chức năng tim mạch sau mổ. Người bệnh cần thay đổi chế độ ăn cho lành mạnh hơn (ăn ít chất béo, thịt mỡ, chất bột đường, thực phẩm đóng hộp, thức ăn nhanh, hạn chế muối, giảm rượu bia. Nên ăn cá, thịt gia cầm; nên ăn nhiều trái cây, rau, củ, quả, hạt, thực phẩm tươi sống, organic).

9. Phình động mạch chủ ngực có phòng tránh được không?

Trừ những nguyên nhân gây phình động mạch chủ ngực bẩm sinh, thì đa phần các nguyên nhân khác gây phình động mạch chủ ngực có thể phòng ngừa được. Để phòng ngừa và kiểm soát bệnh lý phình động mạch chủ ngực, chúng ta cần thực hiện lối sống tốt cho sức khỏe từ sớm: – Ngưng hút thuốc lá, tránh hút thuốc lá thụ động – Thể dục thường xuyên, tối thiểu 30-45 phút mỗi ngày, các ngày trong tuần. Có thể đi bộ, chạy bộ, chạy xe đạp, bơi lội, đánh cầu lông, bóng bàn, đánh golf, tập yoga, thể dục nhịp điệu, thiền… tùy theo tình trạng sức khỏe mỗi người. – Giảm cân nếu dư cân, béo phì (khi BMI >23): đặt mục tiêu giảm từ 5% đến 7% cân nặng trong vòng mỗi 6 tháng đến khi đạt cân nặng lý tưởng (BMI từ 18.5 – 22.9) – Chế độ ăn tốt cho tim mạch: + Ăn ít chất béo, thịt mỡ, chất bột đường, thực phẩm đóng hộp, thức ăn nhanh, hạn chế muối, giảm rượu bia. +Nên ăn cá, thịt gia cầm; nên ăn nhiều trái cây, rau, củ, quả, hạt, thực phẩm tươi sống, organic. Tầm soát bệnh lý tim mạch định kỳ mỗi năm từ năm 20 tuổi. Khi có yếu tố nguy cơ nên tầm soát bằng siêu âm động mạch chủ bụng định kỳ. Điều trị tốt các bệnh lý đi kèm nếu có, như: – Kiểm soát lượng đường trong máu nếu có đái tháo đường – Điều trị ổn định huyết áp và mỡ máu

10. Những ai cần lên kế hoạch tầm soát phình động mạch chủ ngực?

Những người có yếu tố nguy cơ cao phát triển phình động mạch chủ ngực thì nên có kế hoạch tầm soát sớm và định kỳ mỗi năm – Tầm soát phình ĐMC ngực ở người có nhiều hơn 2 yếu tố nguy cơ sau: tuổi từ 65 tuổi trở lên, tiền sử hút thuốc lá nhiều năm, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, béo phì, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid máu. – Tầm soát phình ĐMC ngực ở những đối tượng có người cùng huyết thống gần gũi nhất (anh, em ruột hoặc cha mẹ) mắc bệnh phình ĐMC ngực. – Tầm soát bệnh ĐMC ở đối tượng mắc bệnh mô liên kết, hội chứng Marfan (rối loạn di truyền có ảnh hưởng đến mô liên kết, gây tổn thương ở mạch máu, tim, phổi…), viêm mạch hệ thống, giang mai giai đoạn muộn.

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương Benhdotquy.net

Cha mẹ già thường giấu bệnh: Những dấu hiệu con cái không nên bỏ qua

Cha mẹ già thường giấu bệnh: Những dấu hiệu con cái không nên bỏ qua

Khi tuổi cao, sức khỏe của cha mẹ ngày càng suy giảm, nhưng không phải ai cũng sẵn sàng chia sẻ những vấn đề mình đang gặp phải. Nhiều người cao tuổi có xu hướng giấu bệnh vì sợ làm phiền con cháu, lo tốn kém chi phí điều trị hoặc đơn giản cho rằng những triệu chứng mình gặp phải chỉ là biểu hiện bình thường của tuổi già. Điều này khiến không ít bệnh lý được phát hiện muộn, làm giảm hiệu quả điều trị và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ