Cần làm gì để phòng ngừa đột quỵ tái phát?

Vượt qua “cửa tử” đột quỵ, đừng vội mừng. Người có tiền sử bị đột quỵ có nguy cơ cao bị đột quỵ lần tiếp theo, nhất là trong vòng vài tháng đầu. Sau đây là những điều mà bạn cần biết về đột quỵ tái phát.

11-05-2022 14:11
Theo dõi trên |

Đột quỵ (hay tai biến mạch máu não) có thể ví như án tử với người bệnh. Do đó, sau khi qua cơn nguy hiểm, cả bệnh nhân lẫn người nhà đều cảm thấy như “tai qua nạn khỏi”, trút được gánh nặng trong lòng. Tuy nhiên, đó mới chỉ là khởi đầu của cuộc chiến cam go hơn nhiều lần để phòng ngừa đột quỵ tái phát.

Trên thực tế, rất nhiều người đã phải nhập viện vì những cơn đột quỵ “gõ cửa” đến lần thứ 2, thứ 3… Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, tỷ lệ tái phát lần thứ hai của đột quỵ chiếm khoảng 20% trong một năm đầu và có thể lên tới 50% trong 5 năm sau. So với lần đột quỵ đầu, hầu hết các trường hợp đột quỵ tái phát đều để lại hậu quả nặng nề hơn, khả năng hồi phục suy giảm đáng kể. Đồng thời, chi phí điều trị cho đột quỵ tái phát cũng tăng lên gấp nhiều lần.

1. Vì sao bệnh nhân vẫn có thể bị đột quỵ tái phát?

Tùy vào mức độ nặng nhẹ, nguyên nhân gây đột quỵ lần đầu, các bác sĩ có thể dự đoán nguy cơ tái phát. Theo đó, đa phần đột quỵ do tắc nghẽn mạch máu lớn hoặc trường hợp bệnh nhân có dị tật ở mạch máu não, nếu không được điều trị, phòng ngừa “đến nơi, đến chốn” sẽ có nguy cơ cao tái phát, thậm chí là hơn 50%. Đặc biệt, đối với bệnh nhân bị xuất huyết não do vỡ phình mạch máu não, nguy cơ đột quỵ tái phát nếu không loại bỏ túi phình lên đến 80%.

Một số nghiên cứu đã đưa ra nhiều con số thống kê trên thế giới đối với các bệnh nhân tắc nghẽn hay hẹp động mạch cảnh hay hẹp động mạch lớn nội sọ. Cụ thể, nếu người bệnh không được can thiệp và điều trị thì nguy cơ đột quỵ của bệnh nhân có thể lên đến 40% chỉ trong vòng 1 năm.

Đột quỵ có thể tái phát nếu bạn không kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ như xơ vữa mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường…Đột quỵ có thể tái phát nếu bạn không kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ như xơ vữa mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường…

Song, nhiều người vẫn lầm tưởng rằng, đột quỵ chỉ phòng ngừa trong giai đoạn ngắn mà không phải theo dõi, uống thuốc suốt đời. Các chuyên gia khuyến cáo, những ai may mắn sống được hoặc phục hồi tốt sau cơn đột quỵ không đồng nghĩa với việc đã hết bệnh mà cần tiếp tục sử dụng thuốc để phòng bệnh. Bởi những trường hợp này nguy cơ cao tái phát đột quỵ.

Các chuyên gia cảnh báo, nhiều trường hợp sau khi điều trị ổn thì ngưng uống thuốc, hoặc tự mua thuốc theo toa cũ. Thậm chí, một số trường hợp còn uống theo toa thuốc người khác mách bảo.

Tốt nhất, người bệnh đột quỵ cần tuân thủ thuốc điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ, bao gồm:

– Các thuốc giảm tình trạng xơ vữa mạch máu

– Thuốc chống kết tập tiểu cầu, kháng đông

– Các thuốc kiểm soát các yếu tố nguy cơ như cao huyết áp, tiểu đường…

Ngoài ra, còn có những thuốc khác để hỗ trợ, giúp bệnh nhân cải thiện về mặt tinh thần và cảm xúc sau đột quỵ.

Đồng thời, bệnh nhân đột quỵ cũng nên duy trì các thuốc phòng ngừa lâu dài, không nên tự ý dừng thuốc khi chưa có ý kiến của bác sĩ và phải tái khám đều đặn.

»»» Xem thêm: Thừa cholesterol – quả bom nổ chậm làm tăng nguy cơ đột quỵ

2. Dấu hiệu nào giúp nhận biết đột quỵ tái phát?

Theo khuyến cáo, bệnh nhân cần đề phòng với các dấu hiệu của đột quỵ xuất hiện trở lại, nếu có phải đến bệnh viện ngay lập tức. Bởi nguyên tắc trong điều trị đột quỵ là càng sớm càng tốt.

Đặc biệt, những bệnh nhân bị đột quỵ tái phát thường sẽ nặng hơn lần đầu rất nhiều do tổn thương là cộng gộp. Vì vậy, các trường hợp đột quỵ lần 2 nên kiểm tra đánh giá tổng thể bằng phương pháp chụp CT, MRI, kể cả việc đánh giá hệ mạch máu não và tim mạch. Bên cạnh đó, bệnh nhân cũng cần được điều trị tối đa các yếu tố nguy cơ để phòng tránh tái phát, có thể làm tình trạng bệnh trầm trọng hơn.

Méo miệng, yếu liệt một bên, nói ngọng… là những triệu chứng cảnh báo đột quỵ tái phát.Méo miệng, yếu liệt một bên, nói ngọng… là những triệu chứng cảnh báo đột quỵ tái phát.

Trên thực tế, dấu hiệu của đột quỵ tái phát cũng tương tự, bao gồm:

– Xây xẩm

– Đột ngột tê hay yếu của mặt, tay hay chân, đặc biệt ở một nửa cơ thể;

– Lú lẫn, rối loạn hay không hiểu lời nói

– Rối loạn thị giác ở một bên hay hai bên

– Rối loạn việc đi đứng, choáng váng, mất thăng bằng

– Mất khả năng phối hợp động tác

– Đau đầu dữ dội không biết nguyên nhân…

Hơn hết, chúng ta tuyệt đối không nên giữ quan niệm rằng đột quỵ là do trái gió trở trời, ma ám hay quỷ nhập. Không ít người có suy nghĩ này nên thay vì cấp cứu thì họ lại chọn cách cúng vái, đi thầy, giác hơi, cắt lễ, cạo gió… cho bệnh nhân. Các bác sĩ nhấn mạnh, những phương pháp hoàn toàn không có tác dụng điều trị đột quỵ mà thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng của bệnh nhân do trì hoãn thời gian cấp cứu.

Điều tiên quyết để cứu sống bệnh nhân đột quỵ tái phát chính là đến bệnh viện trong thời gian vàng. Khi phát hiện các dấu hiệu báo động đột quỵ, cần chuyển ngay tới các cơ sở y tế gần nhất sẽ giúp giảm tỷ lệ tử vong và tàn phế.

Nếu được cấp cứu đúng thời điểm giờ vàng (3 – 4,5 giờ đầu) bằng các thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch, hoặc trong cửa sổ 6 giờ đầu áp dụng lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học đối với các bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não thì khả năng cứu sống cũng như hạn chế được di chứng càng cao.

»»» Xem thêm: Tận dụng “giờ vàng”: Sự sống người thân nằm trong hiểu biết của bạn

Anh Thi – Benhdotquy.net 

Kết quả chụp mạch máu “có hiệu lực” trong bao lâu?

Kết quả chụp mạch máu “có hiệu lực” trong bao lâu?

Kết quả chụp mạch máu là căn cứ quan trọng giúp bác sĩ chẩn đoán và theo dõi bệnh lý tim mạch, đột quỵ. Tuy nhiên, nhiều người vẫn băn khoăn liệu những hình ảnh này có thể sử dụng trong bao lâu trước khi cần chụp lại. Thực tế, “giá trị” của kết quả không phải lúc nào cũng cố định, mà phụ thuộc vào diễn tiến bệnh và tình trạng sức khỏe của từng người.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ