Các bài tập phục hồi chức năng nuốt sau đột quỵ não

Ngoài việc làm người bệnh sau đột quỵ khó khăn khi nuốt thức ăn, nước uống và khi nuốt nước bọt, rối loạn nuốt có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như hít sặc, viêm phổi, khó thở và có thể dẫn đến tử vong. Vì vậy phục hồi chức năng nuốt cho bệnh nhân sau đột quỵ là rất quan trọng.

11-05-2022 11:05
Theo dõi trên |

Rối loạn nuốt là vấn đề thường gặp thường gặp ở bệnh nhân sau đột quỵ não cấp, chiếm khoảng 42 – 67% bệnh nhân tùy theo các nghiên cứu. Rối loạn nuốt gây ra hít sặc, có thể gây tử vong hoặc dẫn đến viêm phổi với tỉ lệ lên đến 70%. Viêm phổi làm tăng nguy cơ tử vong lên gấp 5 lần. Rối loạn nuốt làm tăng nguy cơ viêm phổi lên gấp 3 lần và hít sặc gây tăng guy cơ viêm phổi lên 7 – 12 lần, thậm chí gấp 18 lần. Bên cạnh đó, rối loạn nuốt còn gây ra một số biến chứng khác như sụt cân, suy dinh dưỡng, mất nước, đổi thói quen ăn uống, trầm cảm, giảm khả năng hòa nhập cộng đồng. Vì vậy việc chẩn đoán và điều trị rối loạn nuốt ở bệnh nhân sau đột quỵ não được coi là biện pháp làm giảm biến chứng cũng như tử vong.

1. Dấu hiệu nhận biết rối loạn nuốt ở bệnh nhân sau đột quỵ

Trong quá trình chăm sóc người bệnh sau đột quỵ, người thân có thể nhận thấy một số triệu chứng lâm sàng gợi ý rối loạn nuốt như: – Tồn đọng thức ăn trong miệng – Chảy nước dãi – Rơi vãi thức ăn – Trào ngược miệng – mũi – Khó khăn trong khởi đầu nuốt, trì hoãn nuốt – Ho hoặc sặc khi nuốt – Thay đổi giọng nói hay tốc độ nói sau khi nuốt – Người bệnh có thể bị sụt cân không rõ nguyên nhân – Mô tả cảm giác thức ăn còn đọng ở cổ, ngực. – Viêm phổi gần đây.

Rối loạn nuốt là một di chứng đột quỵ não rất thường gặpRối loạn nuốt là một di chứng đột quỵ não rất thường gặp

2. Phục hồi chức năng nuốt cho bệnh nhân sau đột quỵ

Để phục hồi chức năng nuốt cho bệnh nhân sau đột quỵ, tùy theo tình trạng của từng bệnh nhân, bác sĩ có thể áp dụng các phương pháp như kỹ thuật bù trừ, thực hiện các bài tập giúp phục hồi chức năng, điều trị bằng thủ thuật xâm nhập hoặc điều trị bằng thuốc.

2.1 Kỹ thuật bù trừ

Đây là những kỹ thuật giúp cải thiện ngay lập tức và tạo sự an toàn khi bệnh nhân nuốt, tuy nhiên hiệu quả chỉ mang tính nhất thời, không lâu dài. Kỹ thuật bù trừ gồm các động tác cần thực hiện khi nuốt như: – Kỹ thuật thay đổi tư thế: + Gập cằm ra trước khi nuốt, bệnh nhân ở tư thế ngồi hoặc nửa ngồi. Động tác này có tác dụng làm các cấu trúc phía trước dịch chuyển ra sau làm hẹp đường vào thanh quản, giảm khoảng cách giữa nắp thanh môn và vách hầu giúp nắp thanh môn đóng kín hơn. + Xoay mặt về bên liệt khi nuốt. Động tác này giúp dồn thức ăn sang bên lành, tạo lực ép lên thành bên của thanh quản. + Xoay mặt về bên liệt đồng thời cúi xuống khi nuốt. Động tác này kết hợp được cả hai yếu tố trên. + Nghiêng đầu sang bên lành. Động tác này sử dụng trọng lực của thức ăn để dồn thức ăn sang bên mạnh của miệng và hầu. + Nằm xuống: làm thay đổi ảnh hưởng của trọng lực lên chất đọng lại khi có tình trạng đọng thức ăn trong hầu sau nuốt. – Gia tăng nhận thức về cảm giác: Tập cho bệnh nhân nhận thức cảm giác mặn, ngọt, chua, nóng, lạnh… để kích thích phản xạ nuốt. Biện pháp này có lợi khi bệnh nhân có rối loạn cảm giác gây ra chậm khởi động giai đoạn miệng. »»» Xem thêm: Chứng khó nuốt sau đột quỵ: Làm gì để nhanh hồi phục?

2.2 Các bài tập giúp phục hồi chức năng nuốt

Bệnh nhân sẽ được tập các bài tập vận động lưỡi, tập phát âm để giúp làm tăng độ mạnh, độ bền của các cơ môi, lưỡi hàm. Các bài tập nuốt gắng sức, tập đẩy hàm, tập nuốt với kích thích nuốt, tập nhóm cơ hỗ trợ nuốt,… giúp làm sạch họng và giảm tồn đọng thức ăn, nước bọt ở miệng. Các bài tập này nếu được thực hiện trong một thời gian giúp cải thiện, phục hồi khả năng nuốt một cách hiệu quả, bệnh nhân có thể chuyển từ ăn bằng sonde dạ dày sang ăn được bằng miệng hoàn toàn. Trong đó: – Các bài tập vận động miệng: + Tập vận động lưỡi: Đưa lưỡi ra trước càng xa càng tốt, lặp lại nhiều lần, giữ sao cho đầu lưỡi ở chính đường giữa cơ thể. Đưa lưỡi sang vùng niêm mạc má 2 bên, dùng tay kỹ thuật viên kháng lại bên ngoài má bệnh nhân, yêu cầu bệnh nhân dùng lưỡi đẩy tay kỹ thuật viên. + Tập phát âm: Nói các nguyên âm a, u, o, e, i. Có thể nói các cung điệu khác nhau. Nói các từ âm kh như (Quả kế…) hoặc âm l (la la). Tập các cơ vùng miệng (Như tập liệt VII)bài tập lưỡi phục hồi chức năng nuốt– Các bài tập làm sạch họng và giảm tồn đọng: + Tập nuốt gắng sức: Thu thập tất cả nước bọt ở trong miệng vào giữa lưỡi. Giữ môi thật chặt, và tưởng tưởng rằng bạn đang nuốt 1 quả nho, cố gắng thực hiện động tác nuốt mạnh. Số lượng thực hiện khác nhau tùy khả năng bệnh nhân. + Tập nhóm cơ hỗ trợ nuốt (nghiệm pháp Shaker): Động tác gập cổ giúp khỏe cơ ức đòn chũm và cơ bám da cổ. Bệnh nhân nằm ngửa, giữ cố định vai trên nền giường, nâng gập đầu về phía trước, cố gắng mắt nhìn ngón chân, rồi nghỉ, và lặp lại động tác. Bệnh nhân nằm ngửa, giữ cố định vai trên nền giường, nâng gập đầu về phía trước, giữa cố định trong vòng 10-15s, tùy khả năng bệnh nhân, giữa 2 lần tập có khoảng thời gian nghỉ ngắn. Bài tập này có thể thực hiện khi bệnh nhân ngồi, yêu cầu giữ cố định vai, gập cổ có lực đối kháng dưới cằm của kỹ thuật viên. + Tập đẩy hàm: Yêu cầu bệnh nhân đẩy hàm dưới của bệnh nhân ra trước càng xa càng tốt, giữ tại đó 5s, nghỉ về trạng thái bình thường, và tiếp tục lặp lại. Đẩy hàm sang 2 bên. + Tập nuốt với kích thích nuốt: dùng kẹo mút, nước chanh chua vừa phải, nước lạnh hoặc nước ấm. Kích thích vùng niêm mạc má bên trái 3 lần, sau đó yêu cầu bệnh nhân nuốt, thực hiện tương tự với vùng niêm mạc má bên phải. Kích thích vùng mặt trên của lưỡi, tương tự như trên. Kích thích vùng niêm mạc miệng vùng trước răng cửa. Kích thích vùng khẩu cái mềm, từ trung tâm lưỡi gà sang bên, kích thích 3 lần sau đó yêu cầu bệnh nhân nuốt, mỗi bên thực hiện 5 lần. + Bài tập Masako: đưa lưỡi ra trước, và giữ cố định giữa 2 hàm răng, thực hiện động tác nuốt trong khi giữ cố định lưỡi tại chỗ. Mục đích bài tập: bệnh nhân nuốt với lưỡi ở 1/3 trước. Bệnh nhân có thể đưa lưỡi vào giữa 2 lần thực hiện. + Bài tập Mendelsohn: Đặt 3 ngón tay giữa của tay vào vùng da cổ dưới cằm, sau đó yêu cầu bệnh nhân nuốt, để cảm nhận sự di chuyển của lưỡi và họng. Sau đó những lần nuốt sau, tay kỹ thuật viên sẽ đẩy vùng họng của bệnh nhân lên càng cao càng tốt trong khi bệnh nhân nuốt. + Bài tập Supraglottic: Thu thập tất cả nước bọt ở trong miệng vào giữa lưỡi.  Hít một hơi thật sâu và giữ hơi thở của bạn. Nín thở trong khi nuốt. Ngay sau khi nuốt, bệnh nhân thực hiện động tác ho. Nếu nắp thanh môn không đóng thì cố hít vào và nói ah, tắt tiếng và nín thở. Động tác này thực hiện khi cổ ở tư thế gập cổ, nghiêng trái, phải, hay ngửa cổ. »»» Xem thêm: Cuộc sống sau đột quỵ: Phục hồi chức năng là bài toán sống còn?

2.3 Thủ thuật điều trị xâm nhập

Nếu di chứng tai biến mạch máu não làm bệnh nhân bị rối loạn chức năng nuốt nghiêm trọng, hầu họng bị liệt và không thể ăn uống được, bệnh nhân sẽ được chỉ định cho ăn qua ruột bằng cách đặt sonde miệng – dạ dày, sonde mũi – dạ dày hoặc mở dạ dày qua da bằng nội soi,… Khi bệnh nhân ăn qua sonde, người nhà cần lưu ý xay nhuyễn thức ăn dạng lỏng, điều chỉnh tốc độ bơm thức ăn phù hợp và sau mỗi lần cho người bệnh ăn, cần bơm nước ấm vào sonde để vệ sinh sonde, tránh vi khuẩn. Khi hít phải dị vật, bệnh nhân có thể được điều trị bằng các thủ thuật ngoại khoa như cắt cơ nhẫn hầu, đưa nếp thanh âm vào giữa, tạo vạt đóng nắp thanh môn, chuyển hướng khí quản- thực quản,…

2.4 Điều trị bằng thuốc

Bệnh nhân có thể được chỉ định Atropin để giảm chảy nước bọt, tuy nhiên thuốc làm trầm trọng thêm tình trạng khó nuốt của bệnh nhân.

Thiên An, benhdotquy.net

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Một gói thuốc được quảng cáo “chống đột quỵ cấp tốc”, vài lời truyền miệng trên mạng xã hội và niềm tin rằng có thể “câu giờ” trước khi đến bệnh viện – tất cả đang tạo nên một xu hướng nguy hiểm: người nhà tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc đột quỵ ngay tại nhà hoặc thậm chí ngay trong phòng cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, hành động tưởng như cứu người này có thể khiến bệnh nhân mất cơ hội sống.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ