Mất ngủ kéo dài: Mối liên hệ ít người biết với nguy cơ đột quỵ

Mất ngủ kéo dài không chỉ khiến cơ thể mệt mỏi, giảm tập trung và suy giảm chất lượng cuộc sống mà còn có thể liên quan đến sức khỏe tim mạch và não bộ. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy người bị mất ngủ có nguy cơ đột quỵ cao hơn, đặc biệt khi tình trạng này kéo dài và đi kèm các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì hoặc hút thuốc.

12-08-2026 13:42
Theo dõi trên |

Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA), các rối loạn giấc ngủ, trong đó có mất ngủ, giấc ngủ bị gián đoạn và rối loạn nhịp sinh học, có liên quan với sức khỏe não bộ kém hơn và nguy cơ bệnh mạch máu não.

Mất ngủ tác động thế nào đến nguy cơ đột quỵ?

Khi thiếu ngủ hoặc ngủ không sâu kéo dài, cơ thể có thể chịu nhiều thay đổi bất lợi. Huyết áp, hoạt động của hệ thần kinh giao cảm, hormone stress và các quá trình viêm có thể bị ảnh hưởng. Đây đều là những yếu tố liên quan đến sức khỏe mạch máu.

Đặc biệt, mất ngủ có thể làm tăng hoặc làm rối loạn huyết áp, trong khi tăng huyết áp là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của đột quỵ. Giấc ngủ không đủ hoặc bị gián đoạn cũng có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa đường huyết, cân nặng và sức khỏe tim mạch.

Một phân tích tổng hợp công bố năm 2026 trên Sleep Medicine: X, bao gồm 17 nghiên cứu với gần 7,7 triệu người, cho thấy người được chẩn đoán mất ngủ có nguy cơ mắc đột quỵ cao hơn. Tuy nhiên, khi xét riêng các triệu chứng mất ngủ, mối liên quan với tất cả các loại đột quỵ không phải lúc nào cũng có ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy mối quan hệ giữa mất ngủ và đột quỵ phức tạp, không nên hiểu rằng cứ mất ngủ là chắc chắn sẽ bị đột quỵ.

Ngủ ít bao nhiêu thì đáng lo?

Không chỉ chất lượng mà thời lượng ngủ cũng có ý nghĩa. Một số phân tích tổng hợp cho thấy ngủ quá ít có liên quan với nguy cơ đột quỵ cao hơn; trong một nghiên cứu tổng hợp 43 nghiên cứu, ngủ khoảng 5-6 giờ hoặc ít hơn mỗi ngày có liên quan với nguy cơ đột quỵ tăng.

Tuy nhiên, không nên chỉ dựa vào số giờ ngủ để đánh giá nguy cơ. Một người ngủ đủ thời gian nhưng thường xuyên thức giấc, ngủ chập chờn, ngáy to hoặc có những cơn ngừng thở khi ngủ cũng cần được lưu ý.

Đặc biệt, ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn có thể gây thiếu oxy từng đợt, làm giấc ngủ bị phân mảnh và ảnh hưởng đến huyết áp, tim mạch. Đây cũng là một rối loạn giấc ngủ đã được ghi nhận có liên quan đến nguy cơ đột quỵ.

Khi nào mất ngủ cần được thăm khám?

Mất ngủ kéo dài từ 3 đêm mỗi tuần trở lên trong ít nhất 3 tháng được xem là mất ngủ mạn tính. Người bệnh không nên tự chịu đựng hoặc thường xuyên dùng thuốc ngủ mà không có hướng dẫn chuyên môn.

Cần đi khám nếu tình trạng khó ngủ, thức giấc nhiều lần hoặc tỉnh quá sớm kéo dài, ảnh hưởng rõ đến công việc và sinh hoạt ban ngày. Bác sĩ có thể tìm nguyên nhân như stress, rối loạn lo âu, trầm cảm, sử dụng caffeine hoặc rượu bia, thuốc đang dùng, đau mạn tính, bệnh lý tuyến giáp hay các rối loạn giấc ngủ khác.

Quan trọng hơn, người mất ngủ nên kiểm soát đồng thời các yếu tố nguy cơ đột quỵ: đo và điều trị huyết áp, kiểm soát đường huyết và cholesterol, duy trì cân nặng hợp lý, vận động thường xuyên, không hút thuốc và hạn chế rượu bia.

Mất ngủ không phải nguyên nhân duy nhất gây đột quỵ, nhưng có thể là một dấu hiệu cảnh báo về sức khỏe tổng thể. Cải thiện giấc ngủ vì thế không chỉ giúp cơ thể phục hồi mà còn là một phần của chiến lược bảo vệ tim mạch và não bộ lâu dài.


Mất ngủ kéo dài: Mối liên hệ ít người biết với nguy cơ đột quỵ

Mất ngủ kéo dài: Mối liên hệ ít người biết với nguy cơ đột quỵ

Mất ngủ kéo dài không chỉ khiến cơ thể mệt mỏi, giảm tập trung và suy giảm chất lượng cuộc sống mà còn có thể liên quan đến sức khỏe tim mạch và não bộ. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy người bị mất ngủ có nguy cơ đột quỵ cao hơn, đặc biệt khi tình trạng này kéo dài và đi kèm các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì hoặc hút thuốc.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ