Đột quỵ – Gánh nặng hàng đầu và hướng đi mở rộng mạng lưới điều trị toàn quốc
Tại Hội nghị Đột quỵ TPHCM 2025, PGS.TS.BS Mai Duy Tôn – Giám đốc Trung tâm Đột quỵ Bệnh viện Bạch Mai – nhận định đột quỵ vẫn là nguyên nhân tử vong và tàn phế hàng đầu tại Việt Nam với số ca mắc mới vượt xa ung thư. Bên cạnh những bước tiến mạnh mẽ của mạng lưới điều trị, thách thức lớn nhất hiện nay là cấp cứu trước viện và thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ giữa các vùng miền.
PGS.TS.BS Mai Duy Tôn – Chủ tịch Hội Đột quỵ TP Hà Nội, Giám đốc Trung tâm Đột quỵ Bệnh viện Bạch Mai chia sẻ thực trạng, thách thức và định hướng phát triển mạng lưới điều trị đột quỵ tại Việt Nam trong bài báo cáo tại Hội nghị Đột quỵ TPHCM 2025.
Gánh nặng đột quỵ tại Việt Nam
PGS.TS.BS Mai Duy Tôn cho biết, đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế ở Việt Nam, trong khi ở nhiều nước, căn nguyên này chỉ đứng thứ hai hoặc ba nhờ kiểm soát tốt yếu tố nguy cơ. Cứ bốn người trưởng thành thì có một người sẽ bị đột quỵ trong đời, đồng nghĩa gần như mọi gia đình Việt đều có nguy cơ đối mặt với căn bệnh này.
Nghiên cứu tại 10 trung tâm đột quỵ (Hội Đột quỵ Thế giới, 2023) cho thấy: trên thế giới, đột quỵ thiếu máu não chiếm khoảng 85% và chảy máu não khoảng 15%, còn ở Việt Nam lần lượt là 76-77% và 20-23%, cùng 1% huyết khối tĩnh mạch, thường gặp ở người trẻ, nhất là phụ nữ. Phân tích hơn 100.000 bệnh nhân (2017-2023) ghi nhận mỗi năm có khoảng 222.000 ca mới, vượt xa số ca ung thư mới (178.000 ca).
8% bệnh nhân là người trẻ 18-45 tuổi; tuổi trung bình khi đột quỵ là 62 ở nam và 65 ở nữ. Tại Hà Nội, tỷ lệ mắc mới thấp hơn mức trung bình toàn quốc (167/100.000 dân) nhờ kiểm soát nguy cơ tốt hơn, song tỷ lệ hiện mắc vẫn cao, gần 1.200/100.000 dân.

Phát triển mạng lưới điều trị đột quỵ
PGS.TS.BS Mai Duy Tôn cho biết, Thông tư 47/2016 của Bộ Y tế là bước ngoặt quan trọng, mở đường cho việc thành lập các đơn vị, khoa và trung tâm đột quỵ phù hợp với điều kiện Việt Nam. Năm 2016, cả nước mới có 12 đơn vị, nhưng đến cuối 2024 đã tăng lên 124 cơ sở, gấp 7 lần so với năm 2017. Phía Bắc phát triển mạnh, nhiều bệnh viện tuyến huyện đã có đơn vị đột quỵ, giúp rút ngắn thời gian tiếp cận điều trị. Tuy nhiên, chênh lệch vùng miền vẫn rõ rệt, đặc biệt ở miền núi, vùng sâu vùng xa – nơi việc thành lập khoa đột quỵ gặp khó khăn về thủ tục, kinh phí và nhân lực.
Theo chuyên gia, cấp cứu trước viện vẫn là điểm nghẽn lớn. Cả nước chỉ có 11/63 tỉnh thành có trung tâm cấp cứu độc lập; tỷ lệ bệnh nhân được vận chuyển bằng xe cứu thương mới đạt khoảng 20%; hơn 80% đến viện ngoài “cửa sổ vàng” 4,5 giờ và ngay cả nhóm đến sớm, chỉ 8% được tiêu huyết khối do chậm trễ trong bệnh viện. Một số địa phương miền núi như Cao Bằng, Bắc Kạn vẫn thiếu nhân sự và kết nối vận chuyển tuyến huyện, tuyến tỉnh.

Để cải thiện, PGS.TS.BS Mai Duy Tôn nhấn mạnh bốn yếu tố then chốt: điều trị tại cơ sở chuyên biệt, tiêu huyết khối trong 3-4,5 giờ đầu, lấy huyết khối cơ học kịp thời và dự phòng tái phát bằng thuốc kháng kết tập tiểu cầu. Cùng với đó là các giải pháp đang triển khai như: ban hành hướng dẫn chẩn đoán, điều trị (2024) mở rộng cửa sổ lấy huyết khối 6-24 giờ; xây dựng bộ tiêu chí chất lượng điều trị; đào tạo chuyên sâu CK1, CK2, tiến sĩ; hợp tác quốc tế; và thí điểm chương trình cấp cứu trước viện bằng xe cứu thương chuyên dụng tại 4 tỉnh.
Trong giai đoạn tới, sẽ tiếp tục mở rộng mạng lưới đột quỵ tới tuyến huyện, thí điểm tại Hà Giang, Quảng Ninh, Thanh Hóa (2025-2026) với hệ thống telemedicine kết nối tuyến tỉnh và Bệnh viện Bạch Mai; đẩy mạnh đào tạo và truyền thông cộng đồng; đồng thời xây dựng Chương trình Quốc gia Phòng chống Đột quỵ với ít nhất 10 giải pháp, bao gồm tiêu chí quản lý chất lượng, mạng lưới cấp cứu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giám sát, điều trị.
PGS.TS.BS Mai Duy Tôn khẳng định, dù mạng lưới điều trị đột quỵ tại Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, nhưng vẫn cần tăng cường đồng bộ từ cấp cứu trước viện, kết nối tuyến, hạ tầng, nhân lực đến dự phòng cộng đồng. Với chiến lược rõ ràng và sự phối hợp của nhiều bên, mục tiêu điều trị tối ưu cho bệnh nhân đột quỵ toàn quốc hoàn toàn có thể đạt được trong tương lai gần.
>> Điều trị đột quỵ cấp trước viện tại Việt Nam: Thành tựu 10 năm và bài toán rút ngắn thời gian vàng
>> Từ 1 đơn vị đến 130 trung tâm: Việt Nam bứt phá điều trị đột quỵ, tiệm cận chuẩn quốc tế
>> Tối ưu kiểm soát LDL-C sau đột quỵ do xơ vữa: Giải pháp vượt rào cản kém tuân thủ điều trị
Minh Anh – Ảnh: Minh Nguyên – benhdotquy.net
Chóng mặt trong y khoa có những dạng nào thường gặp?
Trong y khoa, chóng mặt được chia thành nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng gợi ý một nguyên nhân và hướng xử trí riêng. Việc phân biệt đúng loại chóng mặt ngay từ đầu giúp tránh bỏ sót bệnh lý nguy hiểm và điều trị hiệu quả hơn.
Multimedia
Theo dõi trên:Video
Hẹp động mạch vành: Nguy hiểm thế nào và do đâu?
Hẹp động mạch vành là tình trạng lòng mạch nuôi tim bị thu hẹp, làm giảm lượng máu và oxy đến cơ tim. Nếu không được phát hiện, kiểm soát và điều trị kịp thời, bệnh có thể tiến triển âm thầm nhưng dẫn đến nhiều biến cố nguy hiểm như nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp tim, thậm chí đột tử. Vậy nguyên nhân nào gây hẹp động mạch vành và những yếu tố nguy cơ nào cần đặc biệt cảnh giác?
Sống sót sau đột quỵ, làm gì để không bị lần 2?
Giới trẻ và đột quỵ: Khi lối sống hiện đại trở thành sát thủ âm thầm
Giải mã mối quan hệ nguy hiểm giữa đái tháo đường và đột quỵ
Phòng Tránh Đột Quỵ – Bắt Đầu Từ 5 Bài Tập Đơn Giản
Ngăn đột quỵ ngay từ phút đầu – Những điều nên biết
7 tình huống khiến đường huyết tăng vọt có thể bạn chưa biết















">
">
"> 
