5 cách chăm sóc bàn chân hạn chế nguy cơ hoại tử ở người bệnh đái tháo đường

Cứ 30 giây, thế giới lại ghi nhận một trường hợp phải cắt cụt chi do biến chứng đái tháo đường; hơn 85% các ca phẫu thuật này bắt nguồn từ những vết loét nhỏ có thể phòng ngừa. BS.CK2 Nguyễn Thị Bội Ngọc – Khoa Nội tiết, Bệnh viện Nhân dân 115 khuyến cáo người bệnh cần kiểm tra bàn chân mỗi ngày và duy trì 5 cách chăm sóc để hạn chế nguy cơ nhiễm trùng, hoại tử.

05-11-2026 16:32
Theo dõi trên |

Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF), cứ 10 người trưởng thành thì có 1 người mắc đái tháo đường. Trong số này, khoảng 19-34% người bệnh có nguy cơ bị loét bàn chân ít nhất một lần trong đời.

Đây là biến chứng nguy hiểm nhưng thường bị bỏ qua, bởi tổn thương có thể bắt đầu từ những vết trầy xước, phồng rộp hoặc vết thương nhỏ mà người bệnh không nhận biết.

Theo BS.CK2 Nguyễn Thị Bội Ngọc, khi mắc đái tháo đường lâu năm hoặc kiểm soát đường huyết chưa tốt, người bệnh có nguy cơ gặp hai biến chứng ảnh hưởng trực tiếp đến bàn chân.

Thứ nhất là tổn thương thần kinh ngoại biên, khiến người bệnh giảm hoặc mất cảm giác đau, nóng, lạnh. Khi đạp phải đinh, gai, đá nhọn hoặc bị bỏng nước nóng, người bệnh có thể không nhận ra để xử trí kịp thời.

Thứ hai là tổn thương mạch máu ngoại biên do xơ vữa, làm giảm lượng máu nuôi bàn chân. Các vết thương vì thế khó lành, dễ nhiễm trùng sâu, hoại tử mô và có thể dẫn đến cắt cụt chi.

Để phòng ngừa biến chứng, Khoa Nội tiết, Bệnh viện Nhân dân 115 khuyến cáo người bệnh và thân nhân thực hiện 5 bước chăm sóc bàn chân sau:

  1. Kiểm tra bàn chân mỗi ngày

Người bệnh nên kiểm tra bàn chân mỗi tối trước khi đi ngủ hoặc sau khi tắm, chú ý kẽ ngón chân, gót chân, lòng bàn chân và mu bàn chân. Cần phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường như vết đỏ, chai sạn, phồng rộp, trầy xước, da mềm nhũn hoặc trắng bợt.

Có thể sử dụng gương để quan sát lòng bàn chân. Người bị mờ mắt hoặc khó cúi người nên nhờ người thân kiểm tra giúp, tránh bỏ sót tổn thương ở những vị trí khuất.

  1. Vệ sinh chân đúng cách, tránh bỏng nhiệt

Nên rửa chân ít nhất một lần mỗi ngày bằng nước sạch và xà phòng dịu nhẹ, sau đó dùng khăn mềm thấm khô, đặc biệt ở các kẽ ngón chân. Không nên ngâm chân lâu vì dễ khiến da mềm, tăng nguy cơ tổn thương.

Nhiệt độ nước vệ sinh nên dưới 37°C. Người bệnh cần dùng khuỷu tay hoặc cẳng tay để thử nước, không dùng bàn chân vì khả năng cảm nhận nhiệt có thể suy giảm. Đặc biệt, tránh sử dụng túi chườm nóng, đệm sưởi, bếp than hoặc hơ lửa để làm ấm chân.

  1. Dưỡng ẩm da và cắt móng đúng cách

Khi da chân khô, nứt nẻ, người bệnh có thể thoa kem dưỡng ẩm ở mu bàn chân và gót chân, tránh thoa vào kẽ ngón chân để hạn chế ẩm ướt, nấm da.

Móng chân nên được cắt thẳng ngang, không cắt sâu hoặc bo tròn vào hai bên khóe móng để tránh móng mọc đâm vào da, gây viêm nhiễm. Nếu móng quá dày, biến dạng hoặc người bệnh có thị lực kém, nên nhờ nhân viên y tế hoặc người thân hỗ trợ.

  1. Chọn giày dép và tất phù hợp

Người bệnh không nên đi chân đất, kể cả khi ở trong nhà. Nên chọn giày mũi kín, đế mềm, vừa vặn và có khả năng nâng đỡ bàn chân; tránh giày cao gót, giày mũi nhọn hoặc dép kẹp dễ gây cọ xát.

Trước khi mang giày, cần kiểm tra bên trong để loại bỏ sỏi, cát, dị vật hoặc những vật có thể gây tổn thương. Nên sử dụng tất sạch, sáng màu, thấm hút mồ hôi tốt và không bó chặt bàn chân.

  1. Khám bàn chân toàn diện ít nhất mỗi năm một lần

Ngay cả khi không có biểu hiện đau nhức, người bệnh đái tháo đường vẫn cần được bác sĩ chuyên khoa Nội tiết kiểm tra bàn chân toàn diện ít nhất một lần mỗi năm.

Qua thăm khám, bác sĩ đánh giá cảm giác thần kinh bằng các dụng cụ chuyên môn như monofilament, âm thoa rung; kiểm tra tuần hoàn máu ở bàn chân và phát hiện sớm những biến dạng xương khớp. Từ đó, người bệnh được tư vấn chăm sóc, can thiệp hoặc sử dụng giày chỉnh hình phù hợp.

Bảo vệ bàn chân cần bắt đầu từ những thói quen nhỏ mỗi ngày, thay vì chờ đến khi xuất hiện vết loét mới tìm cách xử trí. Người bệnh cần kiểm soát đường huyết, kiểm tra bàn chân thường xuyên và đến cơ sở y tế khi phát hiện vết thương, sưng đỏ, phồng rộp hoặc dấu hiệu nhiễm trùng, không tự điều trị tại nhà.

Nguồn: Bệnh viện Nhân dân 115

Đang nghỉ ngơi vẫn hồi hộp, tim đập nhanh: Cảnh giác rối loạn nhịp tim

Đang nghỉ ngơi vẫn hồi hộp, tim đập nhanh: Cảnh giác rối loạn nhịp tim

Tim đập nhanh khi vận động, sốt hoặc căng thẳng có thể là phản ứng bình thường. Tuy nhiên, nếu đang nghỉ ngơi vẫn đột ngột hồi hộp, tim đập dồn dập, kèm khó thở, đau ngực hoặc choáng váng, người bệnh cần cảnh giác với rối loạn nhịp tim. Theo ThS.BS Nguyễn Hoàng Anh – Quản lý điều hành Khoa Nội Tổng hợp, chuyên ngành Nội Tim mạch, Bệnh viện Nhân dân Gia Định – Cơ sở Sài Gòn, một số dạng rối loạn nhịp có thể gây ngất, ngừng tim, thậm chí làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ