Thừa cân, béo phì: “Đại dịch” của thiên niên kỷ mới gây nguy cơ đột quỵ

Thừa cân, béo phì hiện được coi như “đại dịch” của thiên niên kỷ mới. Tại Hà Nội và TPHCM, chiếm đến 18% tổng số tỷ lệ người thừa cân béo phì trên cả nước. Ngoài vấn đề thể hình, người thừa cân, béo phì còn có nguy cơ mắc nhiều bệnh lý như: Rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và các bệnh lý tim mạch, ung thư… thậm chí là đột quỵ.

11-10-2023 14:08
Theo dõi trên |

1. Thừa cân, béo phì là gì?

Theo Tổ chức Y tế thế giới, thừa cân béo phì nghĩa là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân gây ra nhiều nguy hại tới sức khỏe. Nhìn chung, bệnh thừa cân béo phì thể hiện trọng lượng cơ thể cao hơn trọng lượng chuẩn ở một người khỏe mạnh.

Bệnh thừa cân, béo phì là bệnh mãn tính do sự dư thừa quá mức lượng mỡ trong cơ thể. Trong cơ thể chúng ta luôn có một lượng mỡ nhất định và lượng mỡ này cần thiết để lưu trữ năng lượng, giữ nhiệt, hấp thụ những chấn động và thể hiện các chức năng khác.

2. Nguyên nhân nào dẫn đến thừa cân, béo phì?

Nguyên nhân gây ra thừa cân béo phì là do:

Sự mất cân bằng giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao. Khẩu phần năng lượng ăn vào vượt quá nhu cầu năng lượng của cơ thể, do đó năng lượng bị dư thừa và được chuyển thành mỡ tích lũy trong các cơ quan, tổ chức

Yếu tố di truyền: Có những người mang một số gen trong các nhóm gen như nhóm gen kích thích sự ngon miệng, nhóm gen liên quan đến tiêu hao năng lượng, nhóm gen điều hoà chuyển hoá, nhóm gen liên quan đến sự biệt hoá và phát triển tế bào mỡ. Trong gia đình nếu cha hoặc mẹ hoặc thậm chí là cả hai đều béo phì thì nguy cơ con cái bị thừa cân sẽ rất cao. Những người bị thừa cân béo phì do yếu tố di truyền có tốc độ trao đổi chất chậm chạp, khó cải thiện.

Sụn tuyến giáp: là tình trạng tuyến giáp không sản xuất đủ các hormone cần thiết cho cơ thể. Sự thiếu hụt hormone làm cho quá trình trao đổi chất bị chậm lại, đồng nghĩa với lượng chất béo không được đốt cháy, là nguyên nhân gây tăng cân.

Thiếu ngủ: Theo nghiên cứu nếu bạn thường xuyên thiếu ngủ 30 phút mỗi ngày sẽ làm tăng nguy cơ thừa cân, béo phì lên đến 17%. Khi bạn không ngủ đủ, lượng ghrelin sẽ tăng lên khiến bạn thường xuyên cảm thấy đói, thèm đồ ăn có nhiều đường. Lâu dần sẽ dẫn đến sự thèm ăn mất kiểm soát, là nguyên nhân gây thừa cân, béo phì.

Người có nguy cơ cao bị thừa cân béo phì bao gồm:

Người có thói quen dùng thức ăn nhanh, thức ăn giàu năng lượng, ăn nhiều chất béo, ăn nhiều đồ chiên, rán, ăn ít rau, uống nhiều nước ngọt, bia rượu…

Người sống tĩnh tại, tuổi trung niên, phụ nữ sau sinh, trong gia đình có nhiều người bị béo phì, dân cư đô thị.

Môi trường làm việc văn phòng tĩnh tại, ít vận động hoặc lười tập luyện cũng là nguyên nhân của béo phì.

Những người hoạt động thể lực thường ăn thức ăn giàu năng lượng, khi họ thay đổi lối sống, hoạt động giảm đi nhưng vẫn giữ thói quen ăn nhiều cho nên bị béo phì…

Xem thêm: Thừa cân làm tăng gấp đôi nguy cơ bị đột quỵ

3. Thừa cân, béo phì gây ra những bệnh gì?

Không như người bình thường, người thừa cân, béo phì có nguy cơ mắc những bệnh mạn tính như: cao huyết áp, tim mạch, đột quỵ, đái tháo đường,…

Tim và đột quỵ

Béo phì có liên quan mật thiết với bệnh tim. Ở người béo phì, mỡ bọc kín tim khiến tim khó co bóp. Hoặc mỡ tích tụ quá nhiều làm tăng dung lượng máu tuần hoàn, tăng gánh nặng cho tim.

Các nghiên cứu cho thấy béo phì gây ra một loạt các hệ lụy, trong đó dễ thấy nhất là tình trạng béo phì làm tăng nguy cơ bị bệnh tăng huyết áp lên 12 lần so với bình thường, lượng đường và cholesterol bất thường, đây là những yếu tố làm tăng nguy cơ xơ cứng mạch máu não, đột quỵ. Một đánh giá năm 2010 của 25 nghiên cứu, thu hút 2,3 triệu người tham gia cho thấy, béo phì có thể gây đột quỵ đến 64%.

Bệnh tiểu đường type 2

Béo phì khiến hormone insulin hoạt động không hiệu quả. Lúc này, tuyến tụy sẽ sản sinh nhiều insulin hơn. Nếu tình trạng kéo dài, việc sản sinh insulin của tuyến tụy giảm khiến bệnh nhân dễ mắc bệnh tiểu đường type 2. Một nghiên cứu cho thấy, nam giới béo phì có nguy cơ mắc tiểu đường type 2 cao gấp 7 lần người bình thường, trong khi tỷ lệ này ở nữ là 12.

Ung thư

Thừa cân và béo phì có liên quan đến 13 loại ung thư khác nhau như: vú, túi mật, tuyến tụy, thận, cổ tử cung,… Những bệnh này chiếm 40% trong tất cả các ung thư được chẩn đoán. 

Bệnh túi mật

Túi mật chịu trách nhiệm chứa, dự trữ dịch mật do gan tổng hợp và bài tiết. Người béo phì có lượng cholesterol cao hoặc túi mật hoạt động không tốt khiến mật tích tụ và cứng lại hình thành sỏi.

Viêm xương khớp

Béo phì gây ra một loạt các bệnh về cơ xương khớp ở người trưởng thành. Trọng lượng cơ thể quá nặng có thể làm tăng áp lực gây đau đầu gối, hông và bàn chân. Đồng thời, hạn chế khả năng vận động, dễ chấn thương khớp. Chất béo dư thừa tạo ra một số chất trung gian gây viêm, ảnh hưởng đến các mô khớp, làm tình trạng đau nhức thêm trầm trọng.

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) dẫn chứng, cứ 3 người béo phì có 1 trường hợp viêm xương khớp. Tăng 5kg cân nặng, nguy cơ mắc bệnh viêm khớp gối tăng lên 36%.

Bệnh gout

Bệnh gout (hay thống phong) một dạng viêm khớp phổ biến. Béo phì làm tăng nguy cơ mắc gout, bởi có nhiều mô, cơ luân chuyển, đồng nghĩa với việc sản xuất nhiều acid uric dưới dạng chất thải chuyển hóa.

Bình thường, chỉ số acid uric trong máu được duy trì một cố định, ở nam là 210 – 420 umol/L và 150 – 350 umol/L với nữ. Khi thận không đào thải được hoặc cơ thể tạo ra quá nhiều acid uric, dẫn đến nguy cơ mắc bệnh gout.

Người bệnh gout phải chịu những cơn đau đột ngột và dữ dội ở các khớp ngón chân, ngón tay, đầu gối, kèm theo đó là hiện tượng sưng đỏ, thậm chí không đi lại được.

Chứng ngưng thở khi ngủ

Ngưng thở khi ngủ là hội chứng rối loạn giấc ngủ, người bệnh thường có những cơn ngừng thở ngắn trên 10 giây. Ở người thừa cân, béo phì, lượng mỡ phân bố nhiều quanh đường hô hấp trên dẫn đến hẹp đường thở. Khi cân nặng tăng 10%, nguy cơ mắc chứng ngưng thở khi ngủ tăng gấp 6 lần.

Trong một nghiên cứu khác, có đến 21% nam giới thừa cân, béo phì gặp phải tình trạng ngưng thở khi ngủ mức độ vừa và nặng. Tương tự, với phụ nữ, ngưng thở khi ngủ gặp ở 9% người thừa cân và 22% béo phì.

Suy giảm hệ miễn dịch

Người béo phì có hệ miễn dịch hoạt động kém, nhạy cảm với các yếu tố gây bệnh. Vì thế, đối tượng này dễ mắc các bệnh thông thường, nhiễm trùng.

Bệnh hô hấp

Người béo phì thường mắc chứng ngưng thở khi ngủ, giảm thông khí. Hội chứng giảm thông khí do béo phì nếu không được chẩn đoán, điều trị sớm sẽ gây nhiều biến chứng. Ngoài ra, béo phì khiến khối mỡ ở thành ngực và bụng tăng, khiến người bệnh phải thở nhanh, nông. Đồng thời, làm các bệnh hen phế quản, phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) có nguy cơ nặng hơn.

Bệnh tiêu hóa

Béo phì gắn liền với những bệnh liên quan đến hệ tiêu hóa. Theo đó, người béo phì dễ mắc sỏi mật, chức năng gan suy giảm, ruột nhiễm mỡ. Chất béo dư thừa có thể gây hại hoặc khiến các mô sẹo phát triển dẫn đến xơ gan. Lượng mỡ tích tụ nhiều gây bệnh gan nhiễm mỡ. Bệnh thường không có triệu chứng, lâu dần dẫn đến suy gan.  

Vô sinh

Béo phì ảnh hưởng đến hoạt động nội tiết của cơ thể, trong đó có những hormone quan trọng cho sức khỏe tình dục và sinh sản. Thống kê cho thấy, phụ nữ từ 18 – 40 tuổi, hàm lượng chất béo trong cơ thể vượt quá 10% – 15% có thể gây suy giảm chức năng hoạt động của buồng trứng, rối loạn kinh nguyệt, khó thụ thai, đồng thời, tăng nguy cơ mắc các bệnh viêm nhiễm phụ khoa. Đây là những nguyên nhân phổ biến gây vô sinh ở nữ.

Với nam giới, béo phì cũng gây một số ảnh hưởng như: giảm hormone testosterone (hormone sinh dục nam), rối loạn cương dương, vô sinh,…

Biến chứng béo phì khi mang thai

Béo phì khi mang thai có nguy cơ gặp phải nhiều biến chứng, ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân, thai nhi và sự phát triển của trẻ sau này.

Béo phì ở phụ nữ mang thai có thể gặp những biến chứng như: sảy thai, sinh non, thai chết lưu, tiền sản giật, tiểu đường thai kỳ,… Một nghiên cứu cho thấy, hơn 60% phụ nữ có chỉ số BMI trên 40 mắc một trong những biến chứng trên khi mang thai. Với thai nhi, trẻ sinh ra có thể bị rối loạn chuyển hóa, mỡ máu cao,…

Tác động đến tâm lý

Béo phì với thân hình quá khổ khiến người bệnh tự ti khi giao tiếp, khép mình, kém chủ động, hiệu quả công việc thấp, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Một số nghiên cứu khoa học đã chỉ ra, người béo phì dễ bị tác động tâm lý và có nguy cơ mắc trầm cảm cao.

Béo phì ở người cao tuổi nguy hiểm thế nào?

Béo phì đe dọa rất lớn đến sức khỏe người cao tuổi. Càng lớn tuổi, quá trình chuyển hóa và trao đổi chất trong cơ thể giảm, khả năng tiếp nhận năng lượng của người già sẽ ít hơn. Tốc độ chuyển hóa giảm làm chậm quá trình bài tiết các enzym tiêu hóa, từ đó gây thiếu hụt một số vi chất như vitamin B12 (một loại vitamin có tác dụng chuyển hóa mỡ thành năng lượng), điều này làm cho người cao tuổi dễ béo phì.

Ngoài ra, chế độ ăn nhiều đạm, giàu chất dinh dưỡng nhưng lại ít vận động, sử dụng các sản phẩm như: sữa ong chúa, nhau thai cừu cũng là nguyên nhân gây béo phì ở người cao tuổi.

Tim mạch là mối nguy hại hàng đầu, đe dọa đến sức khỏe của người cao tuổi. Những biến chứng đột quỵ, nhồi máu cơ tim có thể khiến người già tử vong nếu không được can thiệp sớm.

Xem thêm: Béo phì là thủ phạm của hàng loạt biến chứng tim mạch?

4. Làm thế nào để giảm cân hiệu quả?

Để giảm cân hiệu quả cần đòi hỏi mọi người có nghị lực rất lớn vì quá trình giảm cân dễ chán nản. Do đó, để giảm cân, người thừa cân, béo phì phải kiên trì và tập trung vào mục tiêu của mình. Đầu tiên, để giảm cân hiệu quả cần phải có một kế hoạch hành động cụ thể với những mục tiêu thiết thực cho từng giai đoạn.

Xây dựng kế hoạch giảm cân phù hợp

Trước hết hãy đặt cho mình những mục tiêu thực tế. Nếu hiện tại đang ở tình trạng tăng cân thì hãy tìm cách dừng ngay. Thậm chí chỉ bị tăng 1 – 2 cân cũng hết sức cảnh giác. Nếu đang ở tình trạng thực sự đã thừa cân thì nên đặt kế hoạch giảm khoảng 10 – 15% và giữ như vậy. Tốt nhất là nên giảm cân một cách từ từ, hợp lý để duy trì được mức dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Nếu giảm quá nhanh cũng có thể gây ra vấn đề sức khỏe cho bản thân.

Cần vận động, luyện tập thể dục

Để thực hiện như vậy chúng ta hãy bắt đầu bằng cách tập thể dục đều đặn, khoảng 30 – 45 phút mỗi ngày và tất cả các ngày trong tuần. Không nên bắt đầu tập quá nặng và nên bắt đầu bằng đi bộ hoặc hình thức thể dục vừa phải thích hợp mà bạn thấy chịu đựng tốt.

Lựa chọn chế độ ăn hợp lý

Hãy học cách ăn uống hợp lý đủ dinh dưỡng. Có rất nhiều chế độ ăn được đề xuất để giảm cân, ngăn chặn thừa cân, béo phì. Việc chọn chế độ ăn uống phải dựa trên hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống. Đôi khi cũng nên hỏi ý kiến tư vấn của bác sĩ. Tuy nhiên, cần lưu ý những nguyên tắc cơ bản như sau:

Thừa cân, béo phì có thể khống chế được bằng kế hoạch ăn uống hợp lý. Rất dễ bị thừa cân, béo phì hoặc tăng cân trở lại sau những đợt thực hiện chế độ tích cực giảm cân. Do vậy, phải luôn kiên trì và giữ gìn chế độ ăn giảm cân liên tục. Không có một chế độ nào hoặc thuốc nào là kỳ diệu để có thể làm giảm cân và chống béo phì như ý muốn mà chỉ có sự kiên trì và nghị lực mới có thể giảm được cân và giữ được cân nặng.

Có thể lựa chọn chế độ ăn ít chất béo để giảm cân. Những nghiên cứu lớn và theo dõi lâu dài đã chứng minh rõ ràng là chế độ ăn ít chất béo đã có tác dụng rõ ràng trong việc làm giảm tỷ lệ bệnh lý tim mạch (bệnh động mạch vành và tăng huyết áp). Tuy nhiên, một vấn đề còn bàn cãi là chế độ ăn với tỷ lệ chất béo thế nào thì thích hợp?

Nếu chúng ta ăn quá ít chất béo thì cơ cấu bữa ăn sẽ trở nên không cân đối và cơ thể phải điều chỉnh bằng chuyển hoá các chất khác sang chất béo gây ra những rối loạn chuyển hoá. Bởi vì, chất béo rất cần để cung cấp năng lượng và tổng hợp một số chất quan trọng của cơ thể đặc biệt là các chất nội tiết. Một số nghiên cứu cho rằng nên có chế độ ăn khoảng 10% chất béo.

Có thể lựa chọn chế độ ăn chay để giảm cân. Nhiều người lựa chọn chế độ ăn chay để giảm cân, chế độ ăn bao gồm các thức ăn nguồn gốc từ thực vật với rất ít chất béo, nhiều chất tinh bột và nhiều chất xơ. Chế độ ăn này có lợi cho tim mạch nhưng có thể gây thiếu năng lượng, protein và tương đối khó thực hiện cũng như không phải phổ biến để có thể theo đuổi lâu dài.

Một vài trường hợp còn đề cập đến chế độ ăn kiểu Địa trung hải với đặc trưng nhiều cá hoặc chế độ ăn lỏng. Tuy nhiên, các chế độ này khó phổ biến và cầu kỳ.

Tóm lại, thừa cân, béo phì có xu hướng ngày càng phổ biến và thực sự là mối nguy hiểm về sức khoẻ chứ không phải chỉ đơn thuần là vấn đề thẩm mỹ hoặc sự thổi phồng.

Không có một phương cách kỳ diệu nào để giảm cân nhanh chóng mà chỉ có sự quyết tâm bền bỉ mới là bí quyết thành công. Nó là vấn đề lâu dài và cần phải giải quyết liên tục.

Việc giảm cân ở người thừa cân, béo phì chắc chắn làm giảm được nguy cơ bệnh tật (đặc biệt là tim mạch, đột quỵ) và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Không có một mục tiêu giảm cân nào được coi là thống nhất. Tuỳ từng thể trạng và nói chung, nên đặt mục tiêu ban đầu giảm 10% trọng lượng sau đó tiếp tục cho đến mức trọng lượng lý tưởng.

Dựa vào thang phân loại của IDI & WPRO dành cho người châu Á thì BMI lý tưởng của người Việt Nam là từ 18,5 đến 22,9. Ngoài ra bạn có thể tính nhẩm nhanh cân nặng lý tưởng của mình dựa vào chiều cao theo cách sau: Công thức tính chỉ số BMI của một người bình thường bằng cân nặng chia bình phương chiều cao: BMI = Cân nặng/ [(Chiều cao)2]

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi BS Trịnh Ngọc Bình

Phó ban AloBacsi Cộng đồng

  • Từ khóa:
Những dấu hiệu cảnh báo đột quỵ trước vài ngày: Đừng bỏ qua tín hiệu “cầu cứu” của cơ thể

Những dấu hiệu cảnh báo đột quỵ trước vài ngày: Đừng bỏ qua tín hiệu “cầu cứu” của cơ thể

Đột quỵ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế trên toàn thế giới. Nhiều người cho rằng đột quỵ xảy ra đột ngột, không có dấu hiệu báo trước. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp cơ thể đã phát đi những tín hiệu cảnh báo từ vài giờ đến vài ngày trước khi cơn đột quỵ thực sự xuất hiện. Nhận biết sớm các dấu hiệu này có thể giúp người bệnh được can thiệp kịp thời, giảm nguy cơ tử vong và di chứng nặng nề.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ