Phục hồi chức năng sau đột quỵ
Phục hồi chức năng sau đột quỵ là việc làm cấp bách, cần được thực hiện càng sớm càng tốt. Điều trị kịp thời và áp dụng đúng phương pháp sẽ giúp người bệnh khôi phục lại chức năng vốn có, sớm quay trở lại cuộc sống bình thường, tái hòa nhập cộng đồng.
Phục hồi chức năng ở bệnh nhân sau đột quỵ là điều cần thiết và cần phải thực hiện theo từng giai đoạn. Ở các giai đoạn khác nhau sẽ có các vấn đề về sức khỏe và mục tiêu chăm sóc khác nhau, vì vậy, việc điều trị phục hồi này, cần phải được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa và kỹ thuật viên vật lý trị liệu. Các giai đoạn gồm:
– Giai đoạn (tối) cấp (0-24 giờ) – Giai đoạn phục hồi sớm (24 giờ – 3 tháng) – Giai đoạn phục hồi muộn (3 – 6 tháng) – Phục hồi chức năng trong giai đoạn mạn tính (> 6 tháng)
Tại khoa Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ, người bệnh được bác sĩ chuyên khoa thăm khám, đánh giá và tư vấn phương pháp điều trị trên từng cá nhân. Việc cá nhân hóa giúp tối đa hóa khả năng phục hồi.
Mục lục
1. Một số di chứng thường gặp sau đột quỵ
Rất nhiều di chứng mà bệnh nhân đột quỵ thường gặp phải, dưới đây là một số vài di chứng điển hình, cần được phục hồi chức năng sớm, giúp người bệnh tái hòa nhập cộng đồng như:
1.1. Về khả năng vận động:
– Ảnh hưởng chức năng chi:
+ Biểu hiện: khi đột quỵ, các chi có xu hướng bị ảnh hưởng nhiều như yếu liệt tay, chân hoặc nửa người.
+ Khắc phục: khuyến khích tập luyện các hoạt động của chi trên, đặc biệt tập trung và các hoạt động rèn luyện nhiệm vụ cụ thể và chức năng. Tập luyện lặp lại như vươn tới, nắm bắt, chỉ, di chuyển và kéo đồ vật trong các bài tập chức năng. Đeo nẹp đối với người bệnh đột quỵ có nugy cơ bị co rút hoặc đã bị co rút, trị liệu với gương, tập luyện với hỗ trợ bằng robot.
– Các vấn đề về dáng đi, thăng bằng:
+ Biểu hiện: sau đột quỵ bệnh nhân thường gặp các vấn đề về dáng đi, thăng bằng, di chuyển và đi lại. Đi thường là ưu tiên hàng đầu của người bệnh đột quỵ.
+ Khắc phục: các bài tập thăng bằng ở nhiều tư thế khác nhau. Ngồi đứng một chân; đứng, đi và lên xuống cầu thang. Tập luyện dáng đi cho người bệnh sau đột quỵ để tạo sự độc lập, giúp tăng sức bền và tốc độ. Tập luyện với sự hỗ trợ của một thành viên trong gia đình/ người chăm sóc, dụng cụ trợ giúp, ví dụ: dụng cụ chỉnh hình cổ bàn chân, gậy một chân.
– Nguy cơ té ngã:
+ Biểu hiện: té ngã là một vấn đề rất thường gặp của người bệnh sau đột quỵ do khả năng cân bằng bị hạn chế. Vì một số trường hợp ngã có thể dẫn đến những biến chứng nặng nề, cần thực hiện các biện pháp để giảm thiểu nguy cơ té ngã.
+ Khắc phục: cần phải xem xét các nguyên nhân cụ thể. Nếu các nguyên nhân là do đột quỵ thì các can thiệp cần phải nhắm vào những nguyên nhân này. Ngoài ra, cũng nên xem xét tâm lý sợ ngã như các yếu tố nhận thức và cảm xúc cũng như các yếu tố thể chất.
1.2. Về rối loạn ngôn ngữ
Có thể phân loại các rối loạn này thành 3 loại như sau
+ Mất ngôn ngữ (alphasia)
– Mất ngôn ngữ diễn đạt (viết, nói) – Mất ngôn ngữ tiếp nhận (hiểu lời nói, hiểu chữ viết) – Mất ngôn ngữ toàn thể (global alphasia)
+ Loạn vận ngôn (dysathria): do yếu các cơ quan tham gia phát âm.
+ Mất dùng lời nói (apraxia of speech): rối loạn vận động tạo ra lời nói dù không có yếu cơ tham gia phát âm.
Biểu hiện: khó khăn trong giao tiếp, mất ngôn ngữ (alphasia) ảnh hưởng đến khả năng nói, viết, hiểu ngôn ngữ… Khi tình trạng kéo dài làm thay đổi cuộc sống, ảnh hưởng đến cả cá nhân và những người khác xung quanh về kiểu giao tiếp, lối sống, bản sắc… với mức độ nặng nhẹ khác nhau; ảnh hưởng đến sự rõ ràng của lời nói, chất lượng/ âm thanh giọng nói và khả năng hiểu.
Khắc phục: can thiệp bằng ngôn ngữ trị liệu. Khi giao tiếp với người bệnh cần:
+ Nói chậm, lặp lại nếu cần thiết.
+ Không nói câu quá dài.
+ Không hối thúc.
+ Kèm cử chỉ, hình ảnh.
+ Giao tiếp bằng mắt, biểu cảm khuôn mặt.
+ Lắng nghe và hỏi lại nếu cần.
1.3. Về tâm trạng cảm xúc
– Trầm cảm:
+ Biểu hiện: là di chứng phổ biến, ảnh hưởng đến 1/3 người bệnh sống sót sau đột quỵ. Trầm cảm có liên quan đến chậm cải thiện chức năng và thời gian nằm viện kéo dài. Trầm cảm có thể thường tự khỏi trong vòng vài tháng hoặc lâu hơn.
+ Khắc phục: sàng lọc về rối loạn tâm trạng, trầm cảm và suy giảm nhận thức, có thể sử dụng thuốc chống trầm cảm, can thiệp tâm lý do bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý cho phép.
– Thay đổi hành vi:
+ Biểu hiện: hàng loạt các thay đổi về hành vi như dễ cáu giận, hiếu chiến, cố chấp, mất sức sống/ lãnh đạm, dễ thay đổi cảm xúc, thiếu kiềm chế… gây trở ngại đáng kể cho người bệnh trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng.
+ Khắc phục: người bệnh cần tham gia vào liệu pháp xử lý giận dữ, hỗ trợ phục hồi chức năng trong xử lý hành vi giúp tinh thần được cải thiện & hồi phục tốt nhất có thể, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
1.4. Về thị lực
– Biểu hiện: có nhiều vấn đề về thị giác liên quan đến đột quỵ, bao gồm khiếm khuyết thị trường, rối loạn vận động của mắt. Giảm thị lực nếu không được điều chỉnh sẽ gây ra những khó khăn trong các sinh hoạt hằng ngày, di chuyển, làm giảm chất lượng cuộc sống sau đột quỵ. – Khắc phục: người bệnh đột quỵ cần được khám sàng lọc để điều chỉnh thị giác, liệu pháp vận động mắt cũng có thể được sử dụng nhằm cải thiện về thị lực.
1.5. Về ăn uống
– Biểu hiện: khó nuốt, dễ sặc kết hợp với chảy nước dãi là biểu hiện thường gặp nhất về ăn uống của bệnh nhân sau đột quỵ. Khó nuốt làm tăng nguy cơ các biến chứng như viêm phổi hít, mất nước và suy dinh dưỡng. Khó nuốt cũng dẫn đến các hậu quả xấu như tử vong, nhiễm trùng hô hấp… – Khắc phục:
+ Người bệnh đột quỵ giai đoạn cấp cần được nhân viên y tế sàng lọc về rối loạn nuốt trước khi cho ăn, uống hoặc dùng thuốc bằng đường miệng.
+ Vệ sinh miệng và các nguyên tắc an toàn về nuốt rất quan trọng trong ngăn ngừa biến chứng viêm phổi hít. Vệ sinh miệng cần thực hiện ngay cả khi người bệnh ăn qua ống để ngừa viêm phổi do vi khuẩn trong nước bọt, tạo cảm giác thoải mái, sạch sẽ cho người bệnh, kích thích sự phục hồi.
+ Ăn chậm, nuốt 2 lần, làm sạch thức ăn trong miệng trước khi ăn muỗng kế tiếp.
+ Thức ăn nên chế biến mềm, cắt nhỏ (nếu có nhai khó), xay nhuyễn (nếu khả năng kiểm soát viên thức ăn giảm).
+ Thức uống nên làm sệt (nếu có ho khi uống), có thể chia thành nhiều mức độ: sệt vừa như sinh tố đến rất sệt như sữa chua đặc, tùy theo tình trạng của người bệnh.
Xem thêm: Phục hồi chức năng trong đột quỵ não là gì?
1.6. Co cứng
– Co cứng là một trong những nguyên nhân cơ bản của giảm khả năng di chuyển, co rút mô mềm, đau (như đau vai) và tình tragn5 cơ hoạt động quá mức. – Hướng giải quyết: giảm co cứng bằng các như xoa bóp trị liệu, nhiệt trị liệu, xung điện trị liệu, sóng xung kích, laser công suất cao, sóng ngắn.
1.7. Co rút
– Thường gặp như mất vận động xoay ngoài vai; quay ngửa cẳng tay; duỗi khuỷu, duỗi cổ tay, duỗi ngón tay và dạng ngón cái; gập mặt lưng cổ chân và xoay trong khớp háng. – Hướng giải quyết:
+ Để đảm bảo duy trì tầm vận động, cần phải theo dõi các cơ có nguy cơ bị co rút.
+ Cần áp dụng các phương pháp điều trị thông thường như kéo dãn, khuyến khích vận động, làm mạnh cơ cho những người bệnh đột quỵ có nguy cơ hoặc đã hình thành co rút.
+ Giảm co rút bằng các can thiệp xoa bóp trị liệu, nhiệt trị liệu, xung điện trị liệu, sóng xung kích, laser công suất cao, sóng ngắn…
1.8. Bán trật khớp vai
– Bán trật khớp vai thường phối hợp với đau vai và giảm chức năng chi trên. Nguyên nhân là sau đột quỵ, trương lực cơ quanh vai yếu, do đó dẫn đến đau khớp vai và bán trật khớp vai hoặc do gia đình / người chăm sóc thao tác không đúng cách. – Hướng giải quyết:
+ Điều quan trọng nhất là phòng ngừa bán trật khớp vai bằng cách đặt tư thế đúng theo hướng dẫn của chuyên gia phục hồi chức năng.
+ Khi người bệnh ngồi hoặc nằm trên giường, nên nâng đỡ chi trên bằng gối chêm, bàn xếp cạnh giường… thay vì dùng đai.
+ Kích thích điện cho cơ trên gai và cơ delta.
+ Với những người bệnh đã bị bán trật khớp vai, can thiệp có thể bao gồm những dụng cụ nâng đỡ vai và các kỹ thuật thao tác để phòng ngừa bán trật thêm.
+ Đai nâng đỡ vai chỉ nên được sử dụng khi có chỉ định, các trường hợp khác không nên sử dụng đai này vì có thể gây co rút cơ quanh vai và không tạo cơ hội cho tay yếu hoạt động.
1.9. Đau vai
– Người bệnh đột quỵ rất dễ bị đau vai. Đau thường xảy ra ở vai liệt, hầu hết là do phối hợp của nhiều yếu tố như giảm trương lực cơ, co cứng, bất động và thao tác chăm sóc không đúng cách. – Đau vai góp phần làm tăng co cứng, mất hồi phục chi trên, mất ngủ, trầm cảm và giảm chất lượng cuộc sống, cũng như kéo dài thời gian nằm viện. – Các bệnh lý kèm theo liên quan đến tuổi tác do các thay đổi ở khớp (bệnh thoái hóa khớp) có thể làm tăng thêm đau đớn khó chịu, đặc biệt khi vận động. – Hướng giải quyết:
+ Giảm đau bằng các phương pháp vật lý trị liệu như điện trị liệu, nhiệt trị liệu, xoa bóp trị liệu, sóng xung kích, laser công suất cao, sóng ngắn…
+ Phòng ngừa đau vai được xem là quan trọng nhất.
+ Hướng dẫn đặt tư thế tốt và chăm sóc tay (trong trường hợp lãng quên bên liệt).
1.10. Đau thần kinh trung ương sau đột quỵ
Đau thần kinh trung ương sau đột quỵ xảy ra ở khoảng 2 – 8% người bệnh. Người bệnh thường có cảm giác rát bỏng, đau nhói hoặc châm chích nông và khó chịu, thường nặng hơn khi sờ chạm, tiếp xúc với nước hoặc vận động. Hướng giải quyết: các can thiệp có thể bao gồm kích thích thần kinh bằng điện xuyên qua da (TENS), châm cứu, xoa bóp hoặc các can thiệp tâm lý (ví dụ liệu pháp giải cảm giác hoặc liệu pháp nhận thức hành vi). Các biện pháp này, có thể được bác sĩ cân nhắc áp dụng trước hoặc cùng với các thuốc giảm đau.
1.11. Phù nề chi
– Những người bệnh đột quỵ có nguy cơ xuất hiện phù nề bàn tay và chân do nằm bất động kéo dài. – Hướng giải quyết:
+ Phòng ngừa là quan trọng nhất, bằng cách khuyến khích vận động, nâng đỡ và chăm sóc chi thể (đặc biệt khi có tình trạng lãng quên bên yếu liệt).
+ Có thể thử mang vớ/ tất thun tạo lực ép, kích thích điện, vận động thụ động liên tục và nâng cao chân tay khi nghỉ (theo hướng dẫn của chuyên viên phục hồi chức năng).
+ Trong trường hợp nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch sâu: cần tuân thủ điều trị của bác sĩ.
Xem thêm: Kích thích điện một chiều xuyên sọ trong phục hồi chức năng vận động chi trên sau đột quỵ não
1.12. Mất sức bền tim phổi
– Sức bền tim phổi giảm sút đáng kể do tình trạng bất động ở giai đoạn sớm sau đột quỵ. – Hướng giải quyết:
+ Cần khuyến khích người bệnh tham gia tập luyện thể dục thường xuyên, liên tục, tập vận động theo hướng dẫn kỹ thuật viên vật lý trị liệu.
+ Người bệnh cần phải thực hiện kiểm tra sức khỏe đầy đủ (huyết áp, nhịp tim…) trước khi bắt đầu một chương trình tập sức bền tim phổi.
1.13. Mệt mỏi sau đột quỵ
– Mệt mỏi ở đây được định nghĩa là sự mệt mỏi bất thường (hoặc bệnh lý) đặc trưng bởi cảm giác mệt mỏi không liên quan đến mức độ gắng sức trước đó và thường không cải thiện khi nghỉ ngơi. Nguyên nhân của mệt mỏi sau đột quỵ chưa được biết rõ, nhưng đây là một tình trạng thường gặp và kéo dài sau đột quỵ. – Hướng giải quyết:
+ Phân bố thời gian điều trị và thời gian nghỉ ngơi phù hợp.
Sàng lọc trầm cảm cho những người bệnh này.
+ Hướng dẫn người bệnh và gia đình / người chăm sóc về mệt mỏi bao gồm các biện pháp có thể sử dụng như tập thể dục, tạo giấc ngủ ngon, tránh các thuốc an thần và rượu bia quá mức.
+ Xoa bóp trị liệu cải thiện mệt mỏi và cảm xúc.
1.14. Tình dục
Người bệnh đột quỵ và bạn tình nên trao đổi những khó khăn trong các vấn đề tình dục cũng như những lo lắng về thể chất liên quan đến khả năng tham gia, tư thế, các phương pháp hỗ trợ… Có thể nhận lời khuyên của bác sĩ về tư thế an toàn và sức bền, nhằm giảm thiểu tình trạng cảm sau đột quỵ.
2. Các phương pháp phục hồi chức năng
Các dạng phục hồi chức năng sau đột quỵ rất đa dạng và cần cụ thể trên từng di chứng. Ở phần dưới đây, giúp người bệnh có cái nhìn tổng quát về các phương pháp phục hồi, việc sử dụng phương pháp nào, cụ thể ra sao, người bệnh cần nên tham vấn bác sĩ chuyên khoa, tránh tự ý thực hiện. một số phương pháp phục hồi chức năng cho bệnh nhân sau đột quỵ phải kể đến như sau.
2.1. Âm ngữ trị liệu
Ở giai đoạn cấp chủ yếu tập các cơ vận động nuốt bằng tay hoặc bằng máy giúp bệnh nhân hạn chế sặc gây viêm phổi hít. Nếu bệnh nhân có tổn thương vấn đề nuốt, giai đoạn này có thể áp dụng phương pháp ngôn ngữ trị liệu giúp bệnh nhân kích thích não bộ, sớm hồi phục tổn thương trên bệnh nhân khó nói.
2.2. Vận động trị liệu
Người bệnh được hướng dẫn tập mạch cơ tứ đầu đùi
Giai đoạn cấp: điều trị tránh co rút cơ, cứng khớp. Thông thường, ở giai đoạn này bệnh nhân sẽ được tập các bài vận động thụ động, tập vận động có trợ giúp, tập cá kiểu thơ giúp người bệnh tránh đàm ứ đọng và chống loét tỳ đè cho người bệnh. Giai đoạn bản cấp và mạn: các bài tập được sử dụng vận động nhằm nâng cao sức mạnh về sức cơ cho người bệnh nhân như vận động kéo dãn, tập vận động có kháng trở, vận động trợ giúp nhằm tăng cường khả năng về thăng bằng cho bệnh nhân. Xem thêm: Phục hồi chức năng sau đột quỵ tiến hành khi nào, thực hiện bao lâu?
2.3. Hoạt động trị liệu
Các bài tập cầm nắm giúp tăng khả năng hoạt động bàn tay tinh vi ở bệnh nhân có di chứng chi trên
Giai đoạn cấp: bệnh nhân tiếp xúc với vật dụng quen thuộc giúp tăng khả hoạt động tinh vi hơn như cầm chén ăn cơm, cầm ca uống nước, tự đánh răng nếu có bị tổn thương chi trên hoặc nâng tạ bằng chân, đi cầu thang nếu có tổn thương chi dưới. Giai đoạn mạn: phục hồi khả năng hoạt động hằng ngày như nấu ăn, lái xe, tự chăm sóc cá nhân đi thanh song song, đi cầu thang tùy theo sức khỏe và khả năng của bệnh nhân.
Người bệnh được hướng dẫn đi cầu thang
2.4. Vật lý trị liệu
Vật lý trị liệu là sử dụng các thiết bị vật lý trong y học. Đây là những thiết bị tiên tiến trên thế giới áp dụng vào điều trị cho bệnh nhân, nhằm giúp cho bệnh nhân sau đột quỵ hồi phục khả năng vận động.
Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ đã và đang áp dụng điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân sau đột quỵ bằng nhiều phương tiện khác nhau, như:
– Sóng xung kích
+ Sóng xung kích Shockwave là dạng sóng âm mang năng lượng cao tác động vào những điểm đau, các mô cơ xương bị tổn thương, thúc đẩy quá trình làm lành vết thương, tái tạo xương gân và các mô mềm khác, rất có lợi cho kích thích các cơ yếu liệt trên bệnh nhân đột quỵ.
+ Shockwave tác động sâu vào mô, tế bào giúp giảm đau, sưng viêm đáng kể đối với các vấn đề của người bệnh đột quỵ.
+ Sóng xung kích, kích thích quá trình tái tạo mạch máu, hình thành mạch máu mới, cải thiện tình trạng cấp máu tại khu vực tổn thương, tạo thuận lợi cho quá trình tái tạo lại mô.
+ Giảm đau do giảm căng cơ, ức chế sự co thắt; tăng cường phân tán chất P (chất trung gian dẫn truyền đau).
+ Phục hồi vận động do làm tan sự vôi hóa của các nguyên bào sợi.
Ứng dụng sóng xung kích trong phục hồi chức năng
– Sóng ngắn
Ứng dụng sóng ngắn trong phục hồi chức năng
+ Gia tăng cung cấp máu cho các cùng kém vận động trên người bệnh đột quỵ, cung cấp oxy cho các mô và lấy đi các chất cặn bã.
+ Làm giảm kích thích của các dây thần kinh, qua đó giảm đau trên bệnh nhân đột quỵ.
+ Gia tăng nhiệt tạo sự thư giãn cho cơ và gia tăng hiệu suất co bóp, có giá trị trong điều trị co cứng và co rút cơ.
+ Tác dụng tạo nóng nhẹ, có hiệu quả giảm đau cho người bệnh đột quỵ, làm dịu thần kinh cảm giác.
– Điện xung trung tần:
Ứng dụng điện xung trong phục hồi chức năng
+ Tăng tuần hoàn tại chỗ do kích thích trực tiếp các mạch máu và do co cơ.
+ Giảm viêm, giảm đau, giảm phù nề, giải phóng chèn ép tại chỗ, tăng thải trừ chất chuyển hóa tại chỗ.
+ Để giảm đau, giảm co thắt cơ, tăng tuần hoàn, chọn các dòng điện xung có tính chất ức chế. Để kích thích co cơ (cơ bại, liệt, rèn luyện cơ) phục hồi thần kinh, chọn dòng xung có tác dụng hưng phân.
Ứng dụng lazer trong phục hồi chức năng
– Laser năng lượng cao: liệu pháp laser trị liệu công suất cao có tác động mạnh lên mô cơ thể người. Các tác dụng lâm sàng đáng kể nhất của laser trị liệu công suất cao
+ Tái tạo thần kinh.
+ Tác dụng giảm đau.
+ Tác dụng chống viêm.
+ Tác dụng làm giãn mạch.
+ Tác dụng kích thích sinh học.
– Siêu âm trị liệu
+ Tăng tuần hoàn máu cục bộ do tăng nhiệt đột, tăng tính thấm của mạch máu và tổ chức.
+ Giãn cơ do kích thích trực tiếp của siêu âm lên các cảm thụ thần kinh, phù hợp điều trị co cứng, co rút cơ yếu liệt.
+ Giảm đau đo tác dụng trực tiếp lên cảm thụ thần kinh, hiệu quả trong điều trị đau trên bệnh nhân đột quỵ.
Siêu âm trị liệu trong phục hồi chức năng
Trọng Dy (ghi) – benhdotquy.net
Nguồn: Cẩm Nang sức khỏe Phòng chống Đột quỵ – Chủ biên: TS.BS Trần Chí Cường
- Từ khóa:
Những dấu hiệu cảnh báo đột quỵ trước vài ngày: Đừng bỏ qua tín hiệu “cầu cứu” của cơ thể
Đột quỵ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế trên toàn thế giới. Nhiều người cho rằng đột quỵ xảy ra đột ngột, không có dấu hiệu báo trước. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp cơ thể đã phát đi những tín hiệu cảnh báo từ vài giờ đến vài ngày trước khi cơn đột quỵ thực sự xuất hiện. Nhận biết sớm các dấu hiệu này có thể giúp người bệnh được can thiệp kịp thời, giảm nguy cơ tử vong và di chứng nặng nề.
Multimedia
Theo dõi trên:Video
Có phải cứ chóng mặt kèm buồn nôn, ói mửa là rối loạn tiền đình?
Chóng mặt kèm buồn nôn, ói mửa thường khiến nhiều người nghĩ ngay đến rối loạn tiền đình. Tuy nhiên, đây cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo của nhiều bệnh lý nguy hiểm như đột quỵ, u não hoặc rối loạn thần kinh trung ương. Việc chủ quan, tự điều trị tại nhà có thể khiến người bệnh bỏ lỡ “thời điểm vàng” để can thiệp, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
Sống sót sau đột quỵ, làm gì để không bị lần 2?
Giới trẻ và đột quỵ: Khi lối sống hiện đại trở thành sát thủ âm thầm
Giải mã mối quan hệ nguy hiểm giữa đái tháo đường và đột quỵ
Phòng Tránh Đột Quỵ – Bắt Đầu Từ 5 Bài Tập Đơn Giản
Ngăn đột quỵ ngay từ phút đầu – Những điều nên biết
7 tình huống khiến đường huyết tăng vọt có thể bạn chưa biết














">
">
"> 
