Bệnh đái tháo đường

Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF), bệnh tiểu đường đang gia tăng trên toàn cầu, tăng nhanh hơn ở các quốc gia có nhu cầu thấp và trung bình. Hiện có 463 triệu người bị mắc đái tháo đường trên toàn Thế giới, dự báo đến năm 2030 sẽ có 578 triệu người mắc, và con số này sẽ tiếp tục tăng đạt 700 triệu người mắc vào năm 2045.

17-07-2023 13:32
Theo dõi trên |
  1. Bệnh đái tháo đường:

– Đái tháo đường là tình trạng tăng đường trong máu do thiếu insulin hay đề kháng insulin. Tăng đường huyết kéo dài sẽ dẫn đến biến chứng tim, tim, thận, mạch máu, thần kinh… – Triệu chứng của bệnh đái tháo đường:

+ Uống nhiều.

+ Tiểu nhiều.

+ Đói – ăn nhiều.

+ Sụt cân.

+ Mệt mỏi.

+ Vết thương lâu lành.

+ Nước tiểu bị kiến bu.

+ Thị lực giảm.

+ Tê tay, chân, ngứa, đau rát…

1.1. Phân loại: – Đái tháo đường type 1: do tế bào beta của tuyến tụy bị phá hủy dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối (tức cơ thể không có insulin chuyển hóa đường nên phải tiêm insulin). – Đái tháo đường type 2: do khiếm khuyết tiết insulin tiến triển trên nền đề kháng insulin (tức cơ thể mất khả năng sử dụng insulin để chuyển hóa đường gọi là đề kháng insulin). – Đái tháo đường thai kỳ: đái tháo đường được phát triển trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ, người không có bệnh đái tháo đường trước đó. Nếu không được chữa trị mẹ và bé sẽ có nguy cơ gặp các biến chứng:

+ Đối với mẹ: sảy thai, thai lưu, sinh non, tăng huyết áp trong thai kỳ, đa ối, nhiễm trùng tiết niệu, mổ lấy thai;

+ Đối với bé: thai to, hạ đường huyết khi sinh, suy hô hấp, tử vong khi sinh, tăng hồng cầu, vàng da sơ sinh. Cả mẹ và bé cũng có nguy cơ cao bị đái tháo đường type 2 trong tương lai.

1.2. Chẩn đoán:

Que thử đường huyết

– Chẩn đoán xác định đái tháo đường khi:

+ Đường huyết lúc đói ≥ 126 mg/dl (7.0 mmol/l), nhịn ăn ít nhất 8 giờ, thường nhịn đói qua đêm.

+ Đường huyết 2 giờ sau làm nghiệm pháp dung nạp gluocose ≥ 200 mg/dl (11.1 mmol/l).

+ Đường huyết bất kỳ 200 mg/dl (11.1 mmol/l) và có triệu chứng tăng đường huyết (khát nước, tiểu nhiều, ăn nhiều, sụt cân).

+ HbA1C ≥ 6.5%.

+ Nếu không có triệu chứng lặp lại xét nghiệm lần 2.

– Chẩn đoán tiền đái tháo đường:

+ Tiền đái tháo đường đôi khi được xem là rối loạn đường huyết đói hay rối loạn dung nạp đường.

+ Tiền đái tháo đường được coi như là một yếu too16 nguy cơ cao của đái tháo đường type 2.

+ Tiền đái tháo đường khi:

  • Đường huyết lúc đói: 100 – 125 mg/dL (5.6 mmol/L – 6.9 mmol/L).
  • Đường huyết 2 giờ sau nghihem65 pháp dung nạp glucose; 140 – 199 mg/dL (7.8 mmol/L – 11 mmol/L).
  • HbA1C: 5.7% – 6.4%.

– Chẩn đoán bằng nghiệm pháp dung nạp đường:

Thực hiện vào buổi sáng nhịn đói, lấy đường huyết tĩnh mạch lúc đói, sau đó uống 75g glucose pha với 250-300 mL nước (uống trong 5 phút), sau 2 giờ lấy máu tĩnh mạch xét nghiệm đường.

– Chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ:

+ Nghiệm pháp dung nạp glucose được thực hiện ở tuần 22 – 28 của thai kỳ, thử đường huyết tĩnh mạch đói, đường huyết 1 giờ và 2 giờ sau khi uống 75 g glucose.

+ Chẩn đoán xác định khi đường huyết:

  • Lúc đói >/ 92 mg/ dL (5.1 mmol/L)
  • 1 giờ sau uống 75 g glucose >/ 180 mg/dL (10mmol/l)
  • 2 giờ sau uống 75 g Glucose >/ 153 mg/dL (8.5 mmol/l)

1.3. Đối tượng dễ măc đái tháo đường: – Tuổi ≥ 45. – BMI ≥ 23. – Tăng huyết áp. – Ít vận động. – Tiền căn gai đình như bố, mẹ, anh chị em ruột bị mắc bệnh đái tháo đường. – Phụ nữ: sinh con > 4 kg, từng bị đái tháo đường thai kỳ, bị buồng trứng đa năng. – Người có rối loạn lipid máu: hDL < 35 mg/ dl (0.9 mmol/L) và/hoặc tryglicerid > 250 mg /dL (2.8 mmol/L). – Tiền đái tháo đường. – Tiền sử có bệnh tim mạch: thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim… – Dấu hiệu đề kháng insulin (béo phì nặng, dấu gai đen…).

  1. Biến chứng của đái tháo đường

Bệnh đái tháo đường có thể ảnh hưởng đến hệ mạch máu cơ thể và hệ thần kinh. Cụ thể, tùy theo thời gian mắc bệnh, mức độ đường huyết, bệnh nhân có được điều trị tốt hay không mà biến chứng có thể xảy ra ở tim gây bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim cấp, suy tim…; mạch máu ở mắt gây mù lòa tổn thương võng mạc; mạch máu thận gây suy thận; hệ thần kinh gây đột quỵ; rối loạn cảm giác thần kinh ngoại biên gây tê tay chân; trên hệ mạch máu ngoại biên gây tặc động mạch chi dưới nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến cắt cụt chi.

2.1. Biến chứng cấp tính: – Tăng đường huyết quá mức:

+ Là biến chứng nặng do tăng đường huyết nặng, mất nước nghiêm trọng, tăng áp lực thẩm thấu máu và rối loạn ý thức có thể dẫn đến hôn mê và tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

+ Triệu chứng:

  • Khát nước, tiểu nhiều, ăn nhiều, sụt cân.
  • Mất nước nặng.
  • Rối loạn tri giác.
  • Có thể có nhiễm trùng kèm theo: viêm phổi, nhiễm trùng tiểu…

+ Xét nghiệm: đường huyết tăng rất cao có thể lên đến 400 – 500 mg% và các biến đổi về cân bằng kiềm toan và áp lực thẩm thấu máu.

– Nhiễm Ceton acid máu:

+ Nhiễm ceton acid máu do đái tháo đường là biến chứng nghiêm trọng, xảy ra khi cơ thể bệnh nhân sản sinh quá nhiều acid trong máu (gọi là thể ceton) do tình trạng thiếu hụt insulin, thường gặp ở đái tháo đường type 1.

+ Triệu chứng:

  • Khát nước tiểu nhiều, ăn nhiều, sụt cân.
  • Buồn nôn, nôn ói.
  • Đau bụng.
  • Dấu mất nước.
  • Thở nhanh, hơi thở có mùi ceton.
  • Có thể thay đổi tri giác.

+ Xét nghiệm:

  • Đường huyết tăng cao, có ceton trong máu và nước tiểu, toan chuyển hóa pH<7,2.

– Hạ đường huyết:

+ Hạ đường huyết khi đường huyết < 70 mg/dL (3.9 mmol/L).

+ Hạ đường huyết do đái tháo đường là biến chứng ít gặp khi người bệnh đái tháo đường đang điều trị nhưng ăn uống kém, ăn kiêng quá mức, dùng thuốc hạ đường huyết quá liều hoặc có bệnh kèm theo như: suy gan, suy thận… nhưng không theo dõi đường huyết định kỳ.

+ Trong trường hợp bệnh nhân hạ đường huyết phát hiện muộn, mức độ nặng không xử lý kịp thời có thể xảy ra hôn mê, thậm chí tử vong nhưng tình trạng này là rất hiếm.

2.2. Biến chứng mạn tính

Biến chứng thường gặp của bệnh đái tháo đường

– Biến chứng mạch máu não và tim:

+ Hiện tượng tăng đường huyết làm quá trình xơ vữa mạch máu diễn ra nhanh hơn, dễ hình thành cục máu đông trong lòng động mạch, mảng xơ vữa gây bít và tắc lòng mạch dẫn đến:

  • Đột quỵ não.
  • Thiếu máu cơ tim.
  • Nhồi máu cơ tim.

+ Bệnh mạch vành chiếm 70% tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường, gây đau ngực hoặc không đau ngực. Phần lớn biến chứng này lại không có biểu hiện nhiều vì người bệnh đái tháo đường thường bị mất cảm giác do tổn thương thần kinh. Vì thế cần thường xuyên theo dõi và khi có các triệu chứng xuất hiện đột ngột như: khó thở, huyết áp tụt, rối loạn nhịp tim… phải đến cơ sở y tế gần nhất.

+ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): người mắc bệnh tiểu đường có nguy cơ đau tim và đột quỵ tăng gấp 2 – 3 lần người bình thường.

– Biến chứng mạch máu ngoại biên: triệu chứng giống viêm động mạch do xơ vữa như: đau cách hồi, đau chân ở tư thế nằm, chân lạnh, tím đỏ ở phần dưới, ở ngón chân, teo các cơ liên đốt có thể dẫn đến loét, hoại tử, vết thương lâu lành và cắt cụt chân. – Biến chứng mắt: biến chứng mắt do đái tháo đường là biến chứng rất phổ biến, chiếm 2.6% tỷ lệ mù trên toàn cầu (theo WHO). Bệnh lý võng mạc do đái tháo đường, đục thủy tinh thể dẫn đến mù lòa vĩnh viễn nếu không điều trị kịp thời. – Biến chứng thận:

+ Đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu gây ra suy thận.

+ Thận có chức năng chính là lọc máu, đào thải chất cặn bã ra ngoài cơ thể thông qua đường tiểu. Ở người đái tháo đường, do đường huyết tăng cao dẫn đến lượng máu đến thận quá lớn, thận phải làm việc (lọc) quá mức kéo dài, hệ thống lọc bắt đầu bị phá hủy gây tổn thương hệ thống lọc thận, từ đó chức năng thận cũng bị suy giảm dẫn đến suy thận cấp, suy thận mạn.

+ Triệu chứng:

  • Phù nề.
  • Tiểu nhiều về đêm, trong nước tiểu có bọt hay bong bóng.
  • Thiếu máu: mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, mất tập trung, chán ăn.
  • Ngứa, buồn nôn, khó thở.
  • Tăng huyết áp có thể xuất hiện ở giai đoạn sớm hoặc trễ.

+ Xét nghiệm:

  • Tiểu đạm.
  • Chức năng thận giảm.
  • Thiếu máu. – Biến chứng thần kinh:

+ Biến chứng thần kinh do đái tháo đường (còn gọi là bệnh thần kinh do đái tháo đường) là biến chứng phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường, xuất hiện nhiều ở bệnh nhân kiểm soát đường huyết kém.

+ Mặc dù biến chứng này ít gây tử vong nhưng là nguyên nhân hàng đầu của cắt cụt chân.

+ Triệu chứng:

  • Thần kinh ngoại biên:

– 2 bàn chân: tê rần, châm chích, kiến bò, nóng rát, đau nhức… ở đầu ngón tay, sau đó lan dần ra 2 bên. – Có thể tăng nhạy cảm đau. – Giảm hoặc mất cảm giác như đi bị rớt dép. – Khó đi đứng, leo cầu thang, cầm nắm, nâng đồ vật.

  • Triệu chứng thần kinh tự chủ:

– Tim mạch: nhịp tim nhanh, mệt khi gắng sức, nhồi máu cơ tim không đau, hạ huyết áp tư thế, sợ nóng, mất triệu chứng hạ đường. – Tiêu hóa: khó nuốt, nuốt nghẹn, nôn, tiêu chảy xen kẽ táo bón thường xảy ra về đêm, không đau bụng. – Tiết niệu, sinh dục: tiếu lắt nhắt, không kiểm soát, nhiễm trung tiểu tái phát bệnh bàng quang thần kinh làm giảm co bóp và liệt thần kinh, rối loạn cương ở nam, khô âm đạo ở nữ.

  1. Cách xử trí tăng và hạ đường huyết

3.1. Tăng đường huyết – Đường huyết tăng cao trong máu có thể dẫn đến biến chứng nhiễm ceton acid và tăng áp lực thẩm thấu, nguy hiểm đến tính mạng nếu không điều trị kịp thời. – Nếu không xử trí kịp thời bệnh nhân có thể bị hôn mê và tử vong. Việc điều trị phải được tiến hành sớm tại bệnh viện không thể điều trị tại nhà. Do đó, nếu bệnh nhân đang điều trị bệnh tiểu đường, xét nghiệm đường huyết tại nhà tăng cao, kèm theo các dấu hiệu lơ mơ phải đưa ngay vào bệnh viện cấp cứu. 3.2. Hạ đường huyết – Các dấu hiệu nhận biết hạ đường huyết:

+ Cảm giác đói, vã mồ hôi, bủn rủn tay chân.

+ Hoa mắt, chóng mắt, nhức đầu.

+ Nhìn đôi, nhìn mờ.

+ Hồi hộp, đánh trống ngực, tim nhanh.

+ Run tay, chân.

+ Lo âu, bồn chồn.

+ Buồn nôn, nôn ói.

+ Yếu liệt, lú lẫn.

+ Co giật, hôn mê.

– Cách xử lý:

+ Khi có các dấu hiệu trên người bệnh cần xét nghiệm đường huyết ngay tại nhà, nếu mức đường huyết dưới 70 mg/ dL là chẩn đoán chắc chắn có khả năng hạ đường huyết.

+ Việc xử lý khá đơn giản, bệnh nhân tỉnh cho bệnh nhân ăn uống hoặc ăn thức ăn có đường (trả đường, ăn kẹo, bánh ngọt…).

+ Sau 15 phút đo đường huyết lại nếu đường huyết còn thấp tiếp tục cho ăn hoặc uống nước có đường, sau đó đo đường huyết sau 15 phút nếu vẫn thấp -> đưa bệnh nhân đến bệnh viện gần nhất để được cấp cứu.

– Cách phòng ngừa hạ đường huyết:

+ Ăn đúng giờ, không bỏ bữa.

+ Hạn chế uống rượu, bia.

+ Mang theo thức ăn như bánh, kẹo… bên mình.

+ Không vận động quá sức.

+ Kiểm tra đường huyết khi thấy mệt, ăn uống ít hoặc vận động quá mức.

+ Uống thuốc hạ đường huyết hoặc tiêm insulin theo chỉ định của bác sĩ.

+ Tái khám ngay khi phát hiện hạ đường huyết.

  1. Chăm sóc bản thân người bệnh đái tháo đường

Ở bệnh nhân đái tháo đường, khi bị tổn thương như loét bàn chân, có nguy cơ cặt cụt chi cao từ 10 – 15 lần so với người bình thường. Ngoài ra, bệnh nhân đái tháo đường sẽ giảm cảm giác nên khó phát hiện khi có vết thương, đặc biệt vết thương ở bàn chân. Vì thế, việc chăm sóc và kiểm soát đường huyết hiệu quả sẽ góp phần giảm nguy cơ gây nên các bệnh lý thần kinh và bệnh mạch máu chi dưới cho người bệnh.

Hầu hết các tổn thương loét bàn chân đái tháo đường đều có thể phòng ngừa, người bệnh cần thường xuyên kiểm tra bàn chân, để kịp thời phát hiện và điều trị tích cực, đặc biệt là tránh đi chân trần.

Bảy bước chăm sóc bàn chân hằng ngày:

Bước 1: kiểm tra bàn chân mỗi tối trước khi ngủ

  • Chọn nơi có đầy đủ ánh sáng để kiểm tra bàn chân, kẽ ngón chân xem có vết xước, vết phồng rộp, vết thâm, cục chai chân hay vết đau… nào không.
  • Nếu không thể tự kiểm tra, có thể nhờ người thân hỗ trợ, điều này sẽ giúp cho việc chăm sóc phát hiện sớm những tổn thương và nhanh chóng đến gặp bác sĩ chuyên khoa để được điều trị kịp thời.

Bước 2: rửa chân hằng ngày

  • Rửa kỹ bàn chân và kẽ ngón chân (dùng bọt biển hoặc khăn mềm rửa thật nhẹ nhàng).
  • Rửa bằng nước ấm và xà bông trung tính, không ngâm chân quá 5 phút.
  • Sau khi rửa lau thật khô da và các kẽ ngón chân, có thể dùng bột talc (phấn bảo vệ da) để chống ẩm, chống nấm. Nếu da chân bị khô có thể dùng kèm làm ẩm để bôi (không bôi vào kẽ ngón chân).

Bước 3: phòng tránh bỏng da chân

  • Kiểm tra nhiệt độ nước trước khi tắm, rửa bằng cách dùng nhiệt kế hoặc mu tay, khuỷu tay. Nhiệt độ nước không nóng quá cũng không lạnh quá, khoảng 40 độ là tốt nhất.
  • Không sưởi ấm chân bằng các phương pháp như sưởi bằng lò than, sưởi bằng viên gạch nung nóng, xông hơi bàn chân bằng nước nóng, ngâm chân trong nước nóng, đốt lá ngải hơ chân, đắp chăn điện… vì dễ gây bỏng da.
  • Thoa kem chống nắng lên vùng da để trần khi đi ra nắng.

Bước 4: đến gặp bác sĩ

Nếu có tổn thương như loét chân, vết chai, móng quặp, nấm móng… cần đến bệnh viện để được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và có hướng điều trị kịp thời nhằm hạn chế những biến chứng khó lường khác.

Bước 5: chăm sóc móng chân

– Không để móng chân quá dài.

– Cách cắt móng chân:

+ Nếu mắt kém nên nhờ người thân trong gia đình cắt móng chân.

+ Cắt móng chân ngay sau khi tắm hoặc ngâm móng chân bằng nước trước khi cắt, khi đó móng sẽ mềm và dễ cắt.

+ Cắt móng chân theo đường ngang. Dùng giũa để giũa những góc sắc nhọn và những cạnh thô ráp.

+ Không được dùng những vật sắc nhọn đào sâu dưới móng chân hoặc da quanh móng.

Bước 6: mang giày, vớ phù hợp với bàn chân

– Nên chọn vớ:

+ Bằng len hoặc cotton.

+ Vớ có độn bông.

+ Mũi vớ không chật.

+ Đường may nối không thô, ráp.

+ Không nên mang vớ cao đến đầu gối.

– Cách dọn giày dép:

+ Mua vào buổi chiều.

+ Đo cả hai chân.

+ Đứng thử giày.

+ Đi giày từ từ.

+ Không bao giờ đi giày mới cả ngày, những ngày đầu không quá 1 giờ/ngày.

+ Rộng và sâu ở phần mũi giày.

+ Đế cao su dày.

+ Góc không cao.

+ Đệm gót chắc chắn.

+ Buộc dây hoặc băng dán.

+ Lót trong nhẵn.

Bước 7: giữ cho mạch máu được lưu thông

– Không bắt chéo chân trong thời gian dài. – Không đi những đôi vớ chật hoặc có đai cao su nút quanh cổ chân. – Hãy cử động ngón chân trong 5 phút từ 2 – 3 lần trong ngày. Tập vận động bàn chân hàng ngày để tăng lưu lượng thông mạch máu ở bàn chân như: đi bộ, đạp xe…

Nếu được bệnh nhân nên học cách bắt mạch bàn chân (mạch mu chân) để đánh giá tưới máu bàn chân nếu mạch đập yếu không bắt được hoặc có dấu hiệu đi cách hồi (đi một đoạn ngắn vài trăm mét có thể bị tê chân, cóng chân, mỏi chân không thể đi được sau đó ngồi nghỉ 5 – 10 phút có thể đi lại một đoạn ngắn…). Đây là dấu hiệu sớm, rất quan trọng để phát hiện kịp thời thiếu máu bàn chân trên người bệnh tiểu đường nhiều năm. Nếu có dấu hiệu này, người bệnh tiểu đường phải khám bác sĩ chuyên khoa để đánh giá mạch máu chân.

  1. Chế độ ăn và tập luyện của người đái tháo đường

5.1. Chế độ ăn của người đái tháo đường

Chế độ dinh dưỡng cho người tiểu đường

– Chế độ ăn uống đúng sẽ đảm bảo cho bệnh nhân:

+ Duy trì sức khỏe, tránh bị thiếu dinh dưỡng do ăn uống quá kiêng khem.

+ Tránh tăng hoặc hạ đường huyết quá mức.

+ Hạn chế dùng thuốc.

+ Hạn chế các biến chứng: chế độ ăn hạn chế glucose sẽ góp phần hạn chế các biến chứng xảy ra do đường huyết tăng cao không được kiểm soát.

– Lời khuyên dinh dưỡng cho bệnh nhân đái tháo đường: + Thực phẩm nên dùng:

  • Các loại gạo lứt, hạt ngũ cốc thay cho gạo trắng, bún, phở…
  • Đậu nành và các sản phẩm chế biến từ đậu nành.
  • Thực phẩm giàu đạm có nguồn gốc động vật, ít béo (như thịt nạc, cá, tôm…).
  • Dầu thực vật (dầu đậu nành, dầu vừng…).
  • Ăn đa dạng các loại rau.
  • Các loại quả có hàm lượng đường ít như thanh long, bưởi, ổi…
  • Các loại sữa chỉ số đường thấp như glucerna, gluvita…

+ Thực phẩm không nên dùng:

  • Các loại bánh kẹo ngọt nhiều đường.
  • Các loại trái cây sấy khô.
  • Rượu, bia, nước ngọt có đường.

+ Thực phẩm hạn chế dùng:

  • Khoai củ nướng.
  • Phủ tạng động vật như tim, gan, thận…
  • Các loại quả có hàm lượng đường cao như nhãn, vải, chôm chôm, chuối…

+ Chế biến thức ăn:

  • Hạn chế các món chiên, các loại mỡ động vật
  • Trái cây: hạn chế chế biến thành nước quả ép hoặc xay sinh tố mà nên ăn cả múi, cả miếng để có nhiều chất xơ
  • Các loại khoai củ: không nên chế biến dưới dạng nướng vì có chỉ số đường cao

5.2. Chế độ luyện tập cho người đái tháo đường – Chế độ vận động hợp lý giúp:

+ Cơ thể tăng nhạy cảm insulin

+ Kiểm soát cân nặng và giảm mô mỡ

+ Xương chắc khỏe, khớp linh hoạt, cơ dẻo dai

+ Giảm căng thẳng, lo âu

– Các bài thể dục nhẹ nhàng phù hợp sẽ có lợi cho người bệnh đái tháo đường/ tiền đái tháo đường như:

+ Đi bộ: cần duy trì 30 phút mỗi ngày, 5 ngày/ tuần hoặc

+ Yoga 2 lần/ tuần: yoga giúp giảm được mỡ thừa cho cơ thể và chống lại kháng insulin. Hoặc,

+ Nhảy múa và khiêu vũ: không chỉ giúp cơ thể linh hoạt mà còn giúp cải thiện trí nhớ cũng như kiểm soát được lượng glucose, hoặc

+ Bơi lội: 10 phút mỗi ngày; 3 ngày/ tuần, hoặc

+ Đạp xe: khi đạp xe sẽ tăng cường được lượng máu lưu thông về chân, bảo vệ được đôi chân trước các tác động tiêu cực của bệnh đái tháo đường.

  1. Phòng ngừa bệnh đái tháo đường

Rèn luyện thói quen sống lành mạnh không chỉ giúp cơ thể khỏe mạnh mà còn giúp phòng tránh bệnh đái tháo đường nói riêng và các bệnh tim mạch nói chung.

– Nghỉ ngơi thư giãn tinh thần: nghỉ ngơi và thư giãn tinh thần là yếu tố không thể thiếu của một lối sống lành mạnh, nhất là với người bệnh đái tháo đường. – Cai thuốc lá – rượu bia:

+ Khói thuốc lá không chỉ tác hại trực tiếp đến người hút, mà còn ảnh hưởng xấu đến người xung quanh nếu hít phải. Càng hút thuốc nhiều và thời gian hút ngày càng dài thì nguy cơ mắc bệnh ngày càng cao.

+ Rượu bia ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan nội tạng như gan, não, da, tụy, thận, xương, tim mạch, đặc biệt, việc sử dụng quá nhiều đồ uống chứa cồn sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường.

  • Tăng cường rèn luyện thể dục thể thao và giữ cơ thể cân đối: tập thể dục thể thao ít nhất 30 phút/ ngày và 5 ngày/ tuần.
  • Tuân thủ chế độ dinh dưỡng lành mạnh: chế độ ăn uống lành mạnh giúp ổn định đường huyết, giảm cân.
  • Kiểm soát huyết áp: Theo các nghiên cứu, tăng huyết áp là một yếu tố làm nặng thêm bệnh đái tháo đường, ngược lại đái tháo đường cũng làm tăng huyết áp và trở nên khó điều trị hơn. Kiểm soát huyết áp giúp giảm đáng kể nguy cơ biến chứng tim mạch và tử vong cho người tiểu đường.

Trọng Dy (ghi) – benhdotquy.net

Nguồn: Cẩm Nang sức khỏe Phòng chống Đột quỵ – Chủ biên: TS.BS Trần Chí Cường

       

Những bệnh lý tim mạch tiềm ẩn dễ gây ngưng tim khi chơi thể thao

Những bệnh lý tim mạch tiềm ẩn dễ gây ngưng tim khi chơi thể thao

Ngưng tim đột ngột khi đang vận động thể thao, đặc biệt ở người trẻ, là tình huống hiếm gặp nhưng để lại hậu quả nghiêm trọng. Điều đáng lo ngại là nhiều trường hợp xảy ra ở những người tưởng chừng khỏe mạnh, không có triệu chứng rõ ràng trước đó. Nguyên nhân thường liên quan đến các bệnh lý tim mạch tiềm ẩn, khó phát hiện nếu không được tầm soát phù hợp.

Video

Hẹp động mạch vành: Nguy hiểm thế nào và do đâu?

Hẹp động mạch vành: Nguy hiểm thế nào và do đâu?

Hẹp động mạch vành là tình trạng lòng mạch nuôi tim bị thu hẹp, làm giảm lượng máu và oxy đến cơ tim. Nếu không được phát hiện, kiểm soát và điều trị kịp thời, bệnh có thể tiến triển âm thầm nhưng dẫn đến nhiều biến cố nguy hiểm như nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp tim, thậm chí đột tử. Vậy nguyên nhân nào gây hẹp động mạch vành và những yếu tố nguy cơ nào cần đặc biệt cảnh giác?

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ