Chương trình hướng dẫn tập luyện tại nhà cho người bệnh đột quỵ
Biến chứng đột quỵ khiến bệnh nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận động, cứng khớp, co cơ, thậm chí liệt. Sau đây là một số hướng dẫn tập luyện phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh đột quỵ.
Mục lục
Mục tiêu
– Giúp người bệnh phòng tránh các thương tật thức cấp: teo cơ, cứng khớp, dự phòng loét, ứ trệ tuần hoàn, rối loạn dinh dưỡng…
– Giúp người bệnh có thể tự làm được một số hoạt động trên giường.
– Giúp người bệnh tự lăn trở, ngồi dậy và rời giường khi sức khỏe đủ điều kiện.
Tổng quan đột quỵ não
Đột quỵ não là những tổn thương thần kinh trung ương xảy ra đột ngột mang tính chất khu trú hơn là lan tỏa, do nguyên nhân mạch máu nuôi dưỡng, thường để lại di chứng sau 24h hoặc tử vong trong 24h.
Đột quỵ não để lại nhiều di chứng cho người bệnh, các biểu hiện hay gặp là: Liệt nửa người, méo miệng, nói khó, nuốt khó, giảm nhận thức… ảnh hưởng đến chức năng sinh hoạt, khả năng độc lập của người bệnh.
Các yếu tố nguy cơ của đột quỵ não có thể phòng tránh được là: – Thói quen, lối sống: Rượu bia, chất kích thích, thuốc lá, lười vận động – Bệnh lý tim mạch: Tăng huyết áp, rối loạn lipid máu – Bệnh lý khác: Đái tháo đường… – Các yếu tố không thay đổi được: Tuổi, giới, chủng tộc
Bài tập hướng dẫn phục hồi chức năng tại nhà cho bệnh nhân đột quỵ
1. Tư thế
Người bệnh cần được đặt ở tư thế đúng để giảm bớt mẫu co cứng, đề phòng các thương tật thứ cấp. Có các tư thế đặt người bệnh như sau
1.1. Tư thế nằm ngửa
Vai và hông bên liệt được kê gối mềm, khớp gối gập nhẹ; cổ chân được kê vuông góc với cẳng chân để tránh biến dạng gập bàn chân về phía lòng bàn chân.
1.2. Tư thế nằm nghiêng bên liệt
Vai bên liệt gập, cánh tay duỗi vuông góc với thân, thân mình nửa ngửa, chân liệt duỗi. Tay lành để trên thân hoặc gối đỡ phía lưng. Chân lành gập ở háng và gối.
1.3. Tư thế nằm nghiêng bên lành
Vai và cánh tay bên lành để tự do. Chân lành để duỗi. Thân mình vuông góc với mặt giường. Tay liệt có gối đỡ để vuông góc với thân. Chân liệt có gối đỡ ở tư thế gập háng và gối.


2. Cách lăn trở và ngồi dậy
2.1. Lăn sang bên liệt
Nâng tay và chân lành lên => Đưa chân và tay lành về phía bên liệt => Xoay thân mình sang bên liệt.
2.2. Lăn sang bên lành
Cài tay lành vào tay liệt => Dùng tay lành kéo tay liệt sang phía tay lành => Người hỗ trợ giúp người bệnh, gập gối và háng bên liệt, kéo hông người bệnh xoay sang bên lành.
2.3. Ngồi dậy
2.3.1. Ngồi dậy phía bên liệt
– Người tập đứng về phía bên liệt, giúp Người bệnh nằm nghiêng phía bên liệt sát mép giường, hai chân gấp. Tay bên liệt duỗi thẳng ra trước, vuông góc với thân mình, bàn tay bên lành chống lên mặt giường, phía trên tay liệt.
– Sau đó người tập hướng dẫn hoặc giúp Người bệnh đưa hai chân ra ngoài mép giường, rồi nâng đầu và vai lên khỏi mặt giường với sự hỗ trợ của tay bên lành và tay bên liệt.
– Đồng thời Người bệnh dùng tay lành và tay liệt đẩy thân mình lên để ngồi dậy. Người tập trợ giúp Người bệnh thực hiện động tác bằng cách hỗ trợ Người bệnh nâng đầu và vai lên, giữ bàn tay liệt cố định trên mặt giường trong khi vận động.



2.3.2. Ngồi dậy phía bên lành
Người bệnh nằm nghiêng bên lành cạnh mép giường. Chân lành luồn dưới gót chân liệt đưa chân liệt ra ngoài mép giường. Thả cả hai chân xuống dưới cạnh giường. Chống khuỷu tay lành lên mặt giường, duỗi tay lành để đẩy thân mình ngồi lên. Khi đó người nhà đỡ vai dưới để hỗ trợ người bệnh ngồi dậy.

3. Bài tập ở tư thế nằm
3.1. Khớp vai
3.1.1. Tập gấp và duỗi khớp vai
Người tập dùng bàn tay phải đỡ khuỷu tay, bàn tay trái đỡ cổ tay, giữ tay người bệnh duỗi thẳng, sau đó từ từ đưa tay người bệnh lên phía đầu.

3.1.2. Tập dạng, khép khớp vai
– Người tập dùng tay phải đỡ khuỷu tay và cẳng tay của người bệnh ở vị thế trung gian, bàn tay trái giữ khớp vai để khi tập không làm đẩy khớp vai người bệnh lên trên.
– Sau đó người tập từ từ dạng khớp vai ra cho đến khi tay người bệnh vuông góc với thân mình.

3.1.3.Tập xoay khớp vai
– Người bệnh nằm ngửa, tay dạng ngang vuông góc với thân, khớp khuỷu gấp vuông góc.
– Người tập dùng tay trái nắm giữ cổ tay và bàn tay Người bệnh, tay phải đỡ khuỷu tay người bệnh.
– Tập xoay khớp vai ra ngoài bằng cách đưa bàn tay người bệnh lên phía trên đầu cho đến khi mu bàn tay sát mặt giường, sau đó đưa bàn tay người bệnh lại vị trí ban đầu, lòng bàn tay xuống sát mặt giường.

3.2. Khớp khuỷu
Người bệnh nằm ngửa, tay duỗi dọc theo thân. Người tập dùng bàn tay phải nắm đỡ cổ tay và bàn tay người bệnh với ngón cái ở phía mu, các ngón khác ở phía lòng bàn tay, sau đó từ từ gấp khuỷu tay của Người bệnh lại, rồi duỗi ra trở về vị trí ban đầu và tập lại như trước.

3.3. Khớp cổ tay
– Người bệnh nằm ngửa, tay duỗi dọc theo thân, khuỷu tay gấp vuông góc. Người tập dùng tay trái nắm giữ cổ tay, tay phải nắm giữ bàn và các ngón tay người bệnh giữ ngón tay cái của Người bệnh giữa ngón tay trỏ và ngón giữa của mình.
– Sau đó gấp khớp cổ tay người bệnh về phía lòng bàn tay và hơi nghiêng về phía ngón út, rồi gấp khớp cổ tay người bệnh về phía mu bàn tay và hơi nghiêng về phía ngón cái.

3.4. Ngón tay
Người tập khum các ngón tay của bàn tay phải lại và úp lên các ngón tay của người bệnh ở phía mu bàn tay. Tay trái của người tập giữ khớp cổ tay của người bệnh duỗi thẳng, sau đó dùng bàn tay phải gấp các ngón tay người bệnh lại về phía lòng bàn tay cho đến khi tạo thành nắm đấm.

3.5. Khớp háng, gối
3.5.1. Tập gấp và duỗi khớp háng, gối
Người bệnh nằm ngửa, người tập dùng tay phải đỡ gót chân, tay trái đỡ dưới khoeo chân người bệnh, sau đó gấp nhẹ khớp gối rồi từ từ đưa đùi người bệnh về phía bụng, khi hết cử động lại đưa về vị trí ban đầu.

3.5.2. Tập dạng và khép khớp háng
Người bệnh nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng. Người tập dùng tay phải đỡ dưới gót, tay trái đỡ dưới khoeo chân người bệnh, sau đó từ từ đưa chân người bệnh ra ngoài, rồi đưa trở lại vị trí ban đầu.

3.5.3. Tập xoay khớp háng
Người bệnh nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng. Người tập đặt bàn tay phải của mình trên khớp cổ chân, bàn tay trái trên khớp gối của Người bệnh sau đó từ từ xoay khớp háng ra ngoài và xoay khớp háng vào trong.

3.6. Khớp cổ chân
Tập gấp và duỗi khớp cổ chân:
– Người bệnh nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng. Người tập dùng bàn tay phải đỡ gót chân và bàn chân, bàn tay trái nắm giữ phía trên khớp cổ chân của Người bệnh.
– Sau đó từ từ dùng tay phải gấp khớp cổ chân Người bệnh về phía lòng bàn chân, rồi tiếp đến gấp khớp cổ chân về phía mu bàn chân đến mức tối đa, sau đó tập vận động lại như đã làm ở trên.

3.7. Một số bài tập khác
3.7.1 Nâng hông lên khỏi mặt giường (bài tập bắc cầu)
Nâng hông lên khỏi mặt giường Người bệnh nằm ngửa, hai tay đặt dọc thân mình, hai chân gấp, đặt hai chân sát nhau. Nâng hông lên khỏi mặt giường, càng cao càng tốt, và càng lâu càng tốt. Để người bệnh đếm1,2,3,4… đến 15-20 hãy đặt hông xuống giường. Làm lại khoảng 10 lần.
3.7.2. Hai tay đưa lên đầu
– Tay lành cài vào các ngón tay bên liệt, đưa hai tay duỗi thẳng về phía đầu. Cố gắng đưa khuỷu tay hai bên ngang tai. Sau đó, Hạ hai tay về vị trí cũ. Làm lại 10 – 15 lần.
– Nâng hông: Người bệnh tự nâng hông. Đếm từ 1 đến 20 rồi hạ xuống. Thực hiện 10 lần.
– Đưa hai tay lên phía đầu: Tay lành đan/giữ tay liệt. Nâng cả hay tay đến ngang tai. Hạ tay về vị trí cũ. Thực hiện 10 lần.

Chú ý:
– Khi tập cần cầm nắm cố định càng gần khớp cử động càng tốt.
– Thực hiện cử động nhẹ nhàng, đều đặn, lặp đi lặp lại, thực hiện từ khớp lớn đến khớp nhỏ.
– Mỗi ngày chỉ nên tập 3-4 lần, mỗi lần khoảng 20 phút, trong quá trình tập thấy người bệnh có dấu hiệu bất thường thì dừng tập và báo ngay cho bác sỹ.
Nguồn: Bệnh viện Bạch Mai – Nationnal Center for GloBal Health and Medicine
Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?
Một gói thuốc được quảng cáo “chống đột quỵ cấp tốc”, vài lời truyền miệng trên mạng xã hội và niềm tin rằng có thể “câu giờ” trước khi đến bệnh viện – tất cả đang tạo nên một xu hướng nguy hiểm: người nhà tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc đột quỵ ngay tại nhà hoặc thậm chí ngay trong phòng cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, hành động tưởng như cứu người này có thể khiến bệnh nhân mất cơ hội sống.
Multimedia
Theo dõi trên:Video
Chóng mặt kéo dài, coi chừng đột quỵ: Bác sĩ cảnh báo dấu hiệu dễ nhầm lẫn
Chóng mặt là triệu chứng rất phổ biến, nhưng không phải lúc nào cũng vô hại. Trong nhiều trường hợp, đây có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của đột quỵ, đặc biệt khi kéo dài, dữ dội hoặc kèm theo các biểu hiện bất thường. Các bác sĩ khuyến cáo người dân cần nhận biết đúng để tránh nhầm lẫn nguy hiểm và không bỏ lỡ “thời gian vàng” điều trị.
Sống sót sau đột quỵ, làm gì để không bị lần 2?
Giới trẻ và đột quỵ: Khi lối sống hiện đại trở thành sát thủ âm thầm
Giải mã mối quan hệ nguy hiểm giữa đái tháo đường và đột quỵ
Phòng Tránh Đột Quỵ – Bắt Đầu Từ 5 Bài Tập Đơn Giản
Ngăn đột quỵ ngay từ phút đầu – Những điều nên biết
7 tình huống khiến đường huyết tăng vọt có thể bạn chưa biết















">
">
"> 
