Rối loạn nuốt sau đột quỵ, làm gì để phục hồi?

Rối loạn nuốt là một di chứng rất thường gặp ở bệnh nhân sau đột quỵ. Theo đó, di chứng này khiến cho bệnh nhân gặp khó khăn trong ăn uống, đồng thời có thể gây hít sặc, viêm phổi, khó thở và có thể dẫn đến tử vong. 

04-06-2022 09:28
Theo dõi trên |

1. Rối loạn nuốt ở bệnh nhân đột quỵ

1.1. Rối loạn nuốt là gì?

Nuốt là một quá trình vừa chủ động vừa tự động nhờ sự phối hợp nhiều nhóm cơ giúp đẩy thức ăn từ miệng xuống dạ dày.

Theo đó, sinh lý nuốt được chia thành 4 giai đoạn, gồm:

– Giai đoạn chuẩn bị: Giai đoạn này gồm các hoạt động như cắn, nhai, nghiền thức ăn, nhào trộn thức ăn với nước bọt để thức ăn mềm, nhuyễn.

– Giai đoạn miệng: Sau giai đoạn chuẩn bị, thức ăn sẽ kích thích vùng cảm nhận nuốt quanh vòm họng, trên các cột hạnh nhân, xung động sẽ theo các sợi cảm giác của dây thần kinh số V và IX truyền về trung tâm nuốt ở hành não. Đồng thời, lưỡi sẽ đẩy thức ăn và nước uống mà chúng ta tiêu thụ ra sau để đưa vào vùng hầu.

– Giai đoạn hầu: Ở giai đoạn này, vòm khẩu cái mềm được kéo lên trên để đóng lỗ mũi sau nhằm giúp ngăn sự trào thức ăn vào khoang mũi. Đồng thời, các cột hạnh nhân được kéo vào giữa tại thành một khe dọc để thức ăn vào họng sau và ngăn không cho các thức ăn quá lớn đi qua. Bên cạnh đó, thanh quản được kéo lên trên ra trước các cơ cổ, các dây thanh âm được khép sát vào nhau. Động tác giúp này giúp mở rộng lỗ thực quản và làm các dây chằng kéo nắp thanh quản ra sau đậy kín thanh môn, không cho thức ăn hoặc nước uống lọt vào khí quản. Sau đó, thành họng của chúng ta sẽ co lại để đẩy thức ăn từ họng vào thực quản.

– Giai đoạn thực quản: Trong giai đoạn này, các sóng nhu động được chi phối bởi các dây thần kinh số IX, X, đám rối Auerbach sẽ đưa thức ăn từ họng vào dạ dày.

Theo đó, rối loạn nuốt là tình trạng xảy ra rối loạn ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình nuốt. Cụ thể, rối loạn nuốt sẽ làm thức ăn, nước uống khó xuống dạ dày. Đôi khi, một phần thức ăn có thể sẽ bị lọt ra ngoài thực quản vào mũi hoặc khí quản, gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho bệnh nhân.

Rối loạn nuốt là một thuật ngữ dùng để chỉ sự suy giảm hoặc rối loạn các giai đoạn miệng, hầu hoặc thực quản của quá trình nuốt.Rối loạn nuốt là một thuật ngữ dùng để chỉ sự suy giảm hoặc rối loạn các giai đoạn miệng, hầu hoặc thực quản của quá trình nuốt.

1.2. Di chứng của rối loạn nuốt trong tai biến mạch máu não

Sau đột quỵ, di chứng mà bệnh nhân thường gặp nhất đó chính là rối loạn nuốt. Cụ thể, thống kê cho thấy có đến 52% bệnh nhân bị rối loạn nuốt sau đột quỵ giai đoạn cấp.

Ở giai đoạn sau đột quỵ não một tuần, tỷ lệ bệnh nhân gặp tình trạng rối loạn nuốt xảy ra ở 25 – 30% bệnh nhân và tỷ lệ này sau 6 tháng xảy ra ở 11 – 50% bệnh nhân.

Di chứng này thường xảy ra khi bệnh nhân đang ăn hoặc uống nước. Lúc này, thức ăn hoặc nước uống bị lọt vào khí quản gây ra tình trạng hít sặc khiến bệnh nhân ho sặc sụa, co thắt phế quản dẫn đến khó thở, có thể dẫn đến tử vong.

Các nghiên cứu cho thấy, những ảnh hưởng của rối loạn nuốt bao gồm:

– Có đến 43 – 54% số bệnh nhân sau đột quỵ não cấp bị tình trạng hít sặc.

– 30% bệnh nhân hít sặc sẽ dẫn đến viêm phổi.

– Viêm phổi do hít sặc làm tử vong 3-6% bệnh nhân trong năm đầu tiên.

– Các tai biến khác của rối loạn nuốt là gây sụt cân, mất nước, suy dinh dưỡng, làm thay đổi thói quen ăn uống, gây trầm cảm và giảm khả năng hòa nhập xã hội.

Rối loạn nuốt là một di chứng rất thường gặp ở bệnh nhân sau đột quỵ.

»»» Xem thêm: Vì sao người bệnh đột quỵ dễ bị viêm phổi hít?

2. Dựa vào đâu để nhận biết bệnh nhân bị rối loạn nuốt sau đột quỵ?

Đối với những bệnh nhân đang nằm tại bệnh viện, các bác sĩ có thể phát hiện ra di chứng rối loạn nuốt bằng các cách như:

– Kiểm tra vận động cơ hầu họng, lưỡi.

– Thực hiện nghiệm pháp GUSS (Gugging Swallowing Screen).

– Thang điểm MASA.

– Các biện pháp chẩn đoán can thiệp như: nội soi ống mềm, chiếu X-quang uống Barit quay video hoặc đánh giá độ bão hòa oxy mao mạch…

Đối với những bệnh nhân đang được chăm sóc ở nhà, người thân và bệnh nhân có thể nhận biết chứng rối loạn nuốt thông qua những biểu hiện sau đây:

– Khó khăn trong việc cắn, nhai hoặc dùng lưỡi trong di chuyển thức ăn. Bên cạnh đó, bệnh nhân thường ngậm thức ăn lâu, phải gắng sức khi nuốt, khi nuốt rồi vẫn thấy thức ăn vướng trong họng.

– Thức ăn, nước uống trong miệng chảy ra ngoài, rơi vãi thức ăn khi bệnh nhân ăn uống.

– Bệnh nhân thường xuyên bị chảy nước bọt, nước bọt bị đọng nhiều trong miệng.

– Bệnh nhân bị thay đổi giọng nói, tốc độ nói sau ăn.

– Bệnh nhân bị ho hoặc sặc khi nuốt. Thường xuyên ho khi đang nhai chưa nuốt, khi mới nuốt và một thời gian lâu sau khi nuốt.

– Bị viêm phổi tái phát nhiều lần, sụt cân không rõ nguyên nhân, thay đổi thói quen ăn uống.

Khi thấy bệnh nhân xuất hiện những dấu hiệu này, người nhà nên nhanh chóng đưa bệnh nhân đến các cơ sở y tế để khám và điều trị giúp phục hồi sớm chức năng nuốt.

Bệnh nhân gặp khó khăn trong việc cắn, nhai hoặc dùng lưỡi trong di chuyển thức ăn.Bệnh nhân gặp khó khăn trong việc cắn, nhai hoặc dùng lưỡi trong di chuyển thức ăn.

»»» Xem thêm: Người bệnh có thể đối diện với những biến chứng nào sau đột quỵ?

3. Điều trị phục hồi rối loạn nuốt cho bệnh nhân đột quỵ bằng phương pháp nào?

Các bác sĩ cho biết, tùy vào tình trạng của từng bệnh nhân mà bác sĩ sẽ áp dụng những phương pháp điều trị rối loạn nuốt khác nhau. Một số phương pháp điều trị rối loạn nuốt hiện nay gồm:

3.1. Tập vật lý trị liệu giúp phục hồi chức năng nuốt

Để cải thiện chứng rối loạn nuốt, bệnh nhân sẽ được hướng dẫn tập các bài tập như:

– Bài tập vận động lưỡi.

– Bài tập phát âm để giúp làm tăng độ mạnh, độ bền của các cơ môi, lưỡi hàm.

– Các bài tập nuốt gắng sức.

– Tập đẩy hàm.

– Tập nuốt với kích thích nuốt.

– Tập nhóm cơ hỗ trợ nuốt,…

3.2. Kỹ thuật bù trừ

Kỹ thuật bù trừ là những kỹ thuật giúp cải thiện ngay lập tức và tạo sự an toàn khi bệnh nhân nuốt. Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này chỉ mang tính nhất thời.

Theo đó, kỹ thuật bù trừ sẽ gồm các động tác cần được thực hiện khi nuốt như:

– Thực hiện xoay mặt về bên liệt khi nuốt: Động tác này giúp bệnh nhân dồn thức ăn sang bên không bị ảnh hưởng do đột quỵ, đồng thời tạo lực ép lên thành bên của thanh quản.

– Bệnh nhân ở tư thế ngồi hoặc nửa ngồi và gập cằm ra trước khi nuốt: Động tác này giúp bệnh nhân giảm khoảng cách giữa nắp thanh môn và vách hầu làm nắp thanh môn đóng kín hơn.

– Nghiêng đầu sang bên lành: Động tác này giúp dùng trọng lực của thức ăn để dồn thức ăn sang bên miệng, hầu không bị đột quỵ ảnh hưởng.

Bên cạnh những động tác kể trên, kỹ thuật bù trừ còn có các bài tập giúp gia tăng nhận thức về cảm giác mặn, ngọt, nóng, lạnh để kích thích phản xạ nuốt. Theo đó, những kỹ thuật này sẽ mang lại nhiều lợi ích nếu tình trạng rối loạn nuốt của bệnh nhân xảy ra ở giai đoạn miệng.

3.3. Điều trị bằng thuốc

Các bác sĩ có thể chỉ định bệnh nhân dùng thuốc Atropin để giảm chảy nước bọt. Tuy nhiên, thuốc lại có thể làm trầm trọng thêm tình trạng khó nuốt của bệnh nhân.

Có thể cho bệnh nhân dùng thuốc để giảm chảy nước bọt (Ảnh minh hoạ)Có thể cho bệnh nhân dùng thuốc để giảm chảy nước bọt (Ảnh minh hoạ)

3.4. Thủ thuật điều trị xâm nhập

Trong trường hợp bệnh nhân bị rối loạn chức năng nuốt nghiêm trọng sau đột quỵ (hầu họng bị liệt và không thể ăn uống được) thì các bác sĩ có thể chỉ định cho ăn qua ruột bằng cách đặt sonde miệng- dạ dày, sonde mũi- dạ dày hoặc mở dạ dày qua da bằng nội soi,…

Khi đó, người nhà cần lưu ý những điều sau:

– Xay nhuyễn thức ăn dạng lỏng

– Điều chỉnh tốc độ bơm thức ăn phù hợp

– Sau mỗi lần cho người bệnh ăn, cần bơm nước ấm vào sonde để vệ sinh sonde, tránh vi khuẩn.

Đối với trường hợp bệnh nhân hít phải dị vật, các bác sĩ có thể chỉ định điều trị bằng các thủ thuật ngoại khoa như:

– Cắt cơ nhẫn hầu.

– Đưa nếp thanh âm vào giữa.

– Tạo vạt đóng nắp thanh môn.

– Chuyển hướng khí quản- thực quản,…

»»» Xem thêm: Những phương pháp điều trị đột quỵ tiên tiến hiện nay

4. Cần lưu ý gì khi chăm sóc bệnh nhân bị rối loạn chức năng nuốt sau đột quỵ?

Trong quá trình điều trị phục hồi chức năng nuốt bị rối loạn sau đột quỵ, người nhà và bệnh nhân cần lưu ý những điều sau:

– Thức ăn của người bệnh cần được nấu mềm, cắt nhỏ hoặc xay nhuyễn nếu người bệnh khó nhai, khó nuốt.

– Tránh các thức ăn xơ cứng, khô, kích thước lớn, thức ăn dễ dính vào răng, nướu.

– Chỉ nên cho người bệnh ăn uống khi tỉnh táo, ăn từng muỗng nhỏ ăn chậm, hỗ trợ nếu người bệnh khó mở miệng, nhắc nhở nếu người bệnh ngậm thức ăn lâu.

– Khi ăn, người bệnh ngồi thẳng, vuông góc ở hông, đầu gối và cổ chân, bàn chân chạm sàn hoặc kê trên bục, không để chân lơ lửng.

– Nếu người bệnh không ngồi được nên điều chỉnh đầu giường lên cao hoặc đỡ người bệnh ngồi, chêm gối để người bệnh ngồi ăn được thoải mái, đúng tư thế.

– Sau khi ăn nên ngồi hoặc đi lại khoảng 30 phút để tránh trào ngược thức ăn.

– Chú ý vệ sinh răng miệng cho bệnh nhân, nếu không thể đánh răng được có thể dùng gạc rơ lưỡi và nước muối sinh lý để làm sạch.

Anh Thi – Benhdotquy.net

Việt Nam lần đầu áp dụng kỹ thuật kéo dài “thời gian vàng” cứu người ngừng tim

Việt Nam lần đầu áp dụng kỹ thuật kéo dài “thời gian vàng” cứu người ngừng tim

Bệnh viện Nhân dân Gia Định (TP.HCM) vừa được Bộ Y tế thẩm định và công nhận triển khai thành công kỹ thuật hồi sinh tim phổi có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể (Extracorporeal Cardiopulmonary Resuscitation – ECPR). Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước tiến mới của y học cấp cứu Việt Nam trong việc tiếp cận các kỹ thuật hồi sức tiên tiến trên thế giới.

Video

Hướng dẫn kỹ năng “Ép tim – thổi ngạt” để cứu người

Hướng dẫn kỹ năng “Ép tim – thổi ngạt” để cứu người

Thời gian gần đây, các ca ngưng tim, ngưng thở xảy ra nhiều hơn, trong đó không ít trường hợp diễn ra ngay tại nhà hoặc nơi công cộng trước khi kịp tiếp cận y tế. Ít ai biết rằng vài phút đầu tiên chính là “thời gian vàng” quyết định sự sống còn. Video dưới đây hướng dẫn quy trình ép tim, thổi ngạt theo chuẩn lâm sàng, giúp mỗi người biết cách xử trí đúng khi khẩn cấp xảy ra, bảo vệ chính mình và hỗ trợ người xung quanh.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ