Người bị mạch máu thoái hoá dạng bột, nguy cơ đột quỵ thế nào?

Những nguyên nhân gây đột quỵ thường được nhắc đến nhiều là cục máu đông hoặc dị dạng mạch máu. Tuy nhiên, có một nguyên nhân ít được chú ý đến, đó là bệnh mạch máu thoái hóa dạng bột.

03-06-2022 13:35
Theo dõi trên |

1. Mạch máu thoái hóa dạng bột là bệnh gì?

Bệnh mạch máu thoái hoá dạng bột được mô tả là một bệnh trong đó có sự thoái hóa tiểu động mạch, chất dạng tinh bột lắng đọng trong thành các động mạch não mà không có chỗ nào khác trong cơ thể.

Các nghiên cứu cho thấy, nguyên nhân gây ra bệnh mạch máu thoái hóa dạng bột là do sự xuất hiện một nhóm protein trong cơ thể bị dị dạng về cấu trúc, được gọi là Amyloid.

Theo đó, Amyloid là một nhóm protein có dạng sợi, không hòa tan. Đặc biệt, Amyloid có cấu trúc rất với khoảng 18 vòng cuộn bất thường so với các protein bình thường khác trong cơ thể.

Như vậy, có thể nói Amyloid là những protein bị dị dạng về cấu trúc trong cơ thể. Chính vì sở hữu những cấu trúc bất thường này nên Amyloid không thể tương tác tốt với những protein bình thường khác. Điều này dẫn đến nguy cơ mắc bệnh khi chúng xuất hiện trong thành mạch hay các tổ chức của bất kỳ cơ quan nào khác trong cơ thể.

Bệnh mạch máu thoái hoá dạng bột là một bệnh trong đó có sự thoái hóa tiểu động mạch, chất dạng tinh bột lắng đọng trong thành các động mạch não mà không có chỗ nào khác trong cơ thể.Bệnh mạch máu thoái hoá dạng bột là một bệnh trong đó có sự thoái hóa tiểu động mạch, chất dạng tinh bột lắng đọng trong thành các động mạch não mà không có chỗ nào khác trong cơ thể.

Theo nghiên cứu, tùy theo sự bất thường về cấu trúc mà sản sinh ra nhiều loại Amyloid protein khác nhau, dẫn đến nguy cơ nhiễm bệnh ở các cơ quan khác nhau trong cơ thể, chẳng hạn như:

– IAPP (Amylin) gây bệnh đái tháo đường type 2

– Beta Amyloid protein gây bệnh sa sút trí tuệ(bệnh Alzheimer)

– Alpha-synuclein protein gây bệnh Parkinson

– Alipoprotein Al gây bệnh xơ cứng bì

– Syrum Amyloid A gây bệnh viêm khớp.

»»» Xem thêm: Đột quỵ não ở người tiểu đường: nguyên nhân và cách phòng ngừa

2. Bệnh nhân bị mạch máu thoái hoá dạng bột liệu có nguy cơ đột quỵ?

Đột quỵ có 2 dạng gồm đột quỵ xuất huyết não và đột quỵ nhồi máu não. Theo đó, bệnh lý mạch máu thoái hóa dạng bột có thể gây ra đột quỵ xuất huyết não.

Các chuyên gia cho biết, loại protein Amyloid gây xuất huyết não có tên là Cystatin. Theo đó, Cystatin thẩm lậu vào thành mạch máu và dần gây hủy hoại thành mạch. Theo thời gian, thành mạch máu của người bệnh không thể chịu nổi áp lực do dòng máu chảy ra khiến thành mạch bị vỡ gây triệu chứng đột quỵ xuất huyết não.

Người ta thấy rằng, điểm nổi bật của đột quỵ xuất huyết trong não do bệnh mạch máu thoái hóa dạng bột là các “đốm xuất huyết” xảy ra ở các khu vực gần bề mặt của não (còn gọi là thùy não).

Bệnh mạch máu thoái hóa dạng bột thường xảy ra ở bề mặt não.Bệnh mạch máu thoái hóa dạng bột thường xảy ra ở bề mặt não.

3. Ai có nguy cơ bị mạch máu thoái hóa não dạng bột?

Một trong những yếu tố nguy cơ rõ ràng nhất của bệnh mạch máu thoái hóa dạng bột đó là tuổi tác. Các con số thống kê cho thấy, một số đối tượng sau sẽ có nguy cơ mắc bệnh mạch máu thoái hóa dạng bột:

– Người trên 55 tuổi.

– Bệnh nhân sa sút trí tuệ (bởi những bệnh nhân có chung loại Amyloid protein gây tổn thương). Một só nghiên cứu chứng minh rằng bệnh mạch thoái hóa dạng bột có liên quan đến một số hình thái của gen apolipoprotein E.

– Người bệnh đái tháo đường.

– Người bị rối loạn mỡ máu

– Bệnh nhân tăng huyết áp.

– Người bị tăng acid uric máu.

Người trên 55 tuổi có nguy cơ mắc bệnh thoái hóa mạch máu dạng bột cao hơn bình thường.Người trên 55 tuổi có nguy cơ mắc bệnh thoái hóa mạch máu dạng bột cao hơn bình thường.

»»» Xem thêm: Cách giữ an toàn cho người cao tuổi trong mùa hè

4. Các triệu chứng của bệnh mạch máu thoái hóa dạng bột

Người ta thấy rằng, bệnh nhân mắc bệnh mạch máu thoái hoá dạng bột thường biểu hiện từ từ, không rầm rộ. Bởi bệnh có đặc trưng là những ổ xuất huyết nhỏ, nằm rải rác trong nhu mô não, dưới vỏ não. Theo đó, tùy thuộc vào lượng máu bị chảy do các mạch máu bị vỡ mà bệnh nhân sẽ có triệu chứng khác nhau:

– Với những trường hợp nhẹ: Bệnh nhân sẽ bị chảy máu lượng ít, đồng thời không xuất hiện triệu chứng hoặc các triệu trứng khá mơ hồ như: đau đầu, suy giảm thị lực, thiếu hụt nhẹ chức năng não, suy giảm nhận thức,…

– Với những trường hợp nặng: Bệnh nhân bị chảy máu lượng nhiều, đồng thời xuất hiện biểu hiện co giật, mất ý thức, liệt nửa người, hôn mê hoặc thậm chí tử vong.

5. Chẩn đoán nệnh thoái hóa mạch máu dạng bột bằng những phương pháp nào?

Một trong những phương pháp đáng tin cậy nhất được sử dụng để chẩn đoán bệnh mạch thoái hóa dạng bột là sinh thiết não. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ được thực hiện khi rất cần thiết bởi đây là loại phẫu thuật mang nguy cơ chảy máu nhất định hoặc nhiễm trùng.

Ngoài ra, chúng ta cũng có thể chẩn đoán bệnh mạch thoái hóa dạng bột bằng phương pháp chụp CT hoặc “phương pháp tín hiệu dội” (GRE) – một hình thức của chụp cộng hưởng từ sọ não (MRI). Đây được xem là một trong những phương pháp rất hiệu quả trong chẩn đoán đột quỵ xuất huyết trong não, bất kể bệnh nhân bị xuất huyết nhỏ hay lớn.

»»» Xem thêm: Đột quỵ do tăng huyết áp nguy hiểm ra sao?

6. Người bệnh mạch máu thoái hóa dạng bột được điều trị như thế nào?

Để điều trị bệnh mạch máu thoái dạng bột, người ta có thể cho bệnh nhân sử dụng thuốc chống động kinh để ngăn ngừa cơn co giật.

Tuy nhiên, trong trường hợp bệnh nhân đã bị đột quỵ xuất huyết, gây tăng áp lực trong não do sưng não hoặc tích tụ máu trong não, các bác sĩ có thể thực hiện phẫu thuật để giảm áp lực trong não. Đồng thời, các bác sĩ cũng có thể cho bệnh nhân sử dụng thuốc chống động kinh để ngăn ngừa cơn co giật.

Sau đó, các bác sĩ sẽ theo dõi giữ bệnh nhân trong một hoặc nhiều ngày ở các đơn vị chăm sóc đặc biệt để theo dõi cho đến khi tình hình bệnh trở nên ổn định.

Hiện, vẫn chưa có phương pháp loại trừ Amyloid protein – nguyên nhân chính gây bệnh mạch máu thoái hóa dạng bột. Do đó, việc điều trị chủ yếu tập trung vào việc xử lý các triệu chứng như:

– Ngăn cản phù não bằng manitol,

– NaCl 3%,

– Lợi tiểu Furosemide,

– Thở máy (PEEP thấp),

– Nằm đầu cao…

– Dùng thuốc bảo vệ tế bào não,

– Đảm bảo hô hấp, tuần hoàn,

– Nuôi dưỡng đầy đủ…

Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ các bệnh phối hợp như tiểu đường, tăng huyết áp, bệnh tim, bệnh phổi mãn tính.

Với những bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc bệnh lý nguy hiểm này, tốt nhất nên duy trì huyết áp bình thường. Bên cạnh đó, người bệnh nên tránh thuốc ảnh hưởng đến quá trình đông máu như aspirin hay plavix bởi chúng có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết trong não.

Anh Thi – Benhdotquy.net

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Một gói thuốc được quảng cáo “chống đột quỵ cấp tốc”, vài lời truyền miệng trên mạng xã hội và niềm tin rằng có thể “câu giờ” trước khi đến bệnh viện – tất cả đang tạo nên một xu hướng nguy hiểm: người nhà tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc đột quỵ ngay tại nhà hoặc thậm chí ngay trong phòng cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, hành động tưởng như cứu người này có thể khiến bệnh nhân mất cơ hội sống.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ