Tỷ lệ sống sót sau một cơn đau tim sẽ như thế nào?

Một cơn đau tim (nhồi máu cơ tim cấp) có khả năng dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như rối loạn nhịp tim, viêm màng ngoài tim cấp, bloc nhĩ thất, hoại tử cơ tim, đột tử,… Vậy làm sao để nhận biết sớm dấu hiệu và điều trị kịp thời? Tiên lượng sự sống sẽ ra sao? Mời bạn đọc theo dõi phần tư vấn của BS.CK1 Cao Thị Lan Hương – bệnh viện Trưng Vương.

07-10-2022 09:53
Theo dõi trên |

1. Cơn đau tim sẽ xảy ra khi nào và kéo dài bao lâu?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: “Đau tim” là cách gọi của người dân khi ám chỉ nhồi máu cơ tim. Nhưng trong thực hành khám chữa bệnh đối với bác sĩ, thì đau tim có khi là nhồi máu cơ tim thực sự, cũng có khi chỉ là đau vùng ngực trước tim, do các nguyên nhân khác gây ra, trong đó có cả bệnh do tim cũng có khi là do bệnh lý ngoài tim. Trong giới hạn của chuyên mục này, chúng ta nói về cơn đau tim đồng nghĩa với nhồi máu cơ tim cấp. Theo đó, cơn đau tim trong nhồi máu cơ tim cấp có tên gọi y khoa là cơn đau thắt ngực không ổn định, với đặc điểm là người bệnh có cảm giác đau tức, đè nặng, xoắn vặn trong lồng ngực, sau xương ức hoặc ngực trái, mức độ nặng, xảy ra có thể có hoặc không có liên quan gắng sức hay stress tâm lý tình cảm, có khi xảy ra khi đang ngồi nghỉ hoặc đang ngủ nửa đêm gần sáng, kéo dài trên 20 phút, đau lan ra sau lưng, lên cổ, cằm, vai hoặc cánh tay. Trong cơn đau có kèm mệt, hồi hộp, khó thở, vã mồ hôi, hốt hoảng hoặc ngất xỉu, đau không giảm khi ngậm hay xịt thuốc nitrate. Các dấu hiệu và triệu chứng của nhồi máu cơ tim có thể thay đổi tùy theo tuổi, giới tính, vùng mạch máu bị tổn thương và những bệnh lý khác đi kèm. Nhồi máu cơ tim cấp là tình trạng cơ tim bị thiếu máu nuôi và hoại tử do mạch vành (mạch máu nuôi cơ tim) bị tắc nghẽn đột ngột bởi cục huyết khối trong lòng mạch. >>> Xem thêm: Liệu cà phê có thể kích hoạt cơn đau tim?

2. Đau tim ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng ra sao?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Một cơn đau tim (nhồi máu cơ tim cấp) có khả năng dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như: – Rối loạn nhịp tim: Đây là tình trạng nhịp tim bất thường, có thể nhanh, chậm so với tốc độ trung bình nhưng nặng nhất là rung thất rồi đến nhịp nhanh thất. – Các bloc nhĩ thất: Biến chứng này thường gặp ở nhồi máu cơ tim sau – dưới, được chia thành 3 mức độ khác nhau với độ 3 là bloc tim hoàn toàn, nhịp tim rất chậm kiểu nhịp thoát thất, có thể xảy ra rất đột ngột, tỷ lệ tử vong cao. – Các biến chứng suy bơm: Biến chứng quan trọng của nhồi máu cơ tim (nhất là khi khối hoại tử càng lớn) là suy thất trái, suy tâm thu và cả suy tâm trương (loạn chức năng tâm trương với “thất cứng” tức là giảm giãn năng – compliance). Mức nặng nhất của suy bơm là “sốc do tim”. Sốc là giảm tưới máu mô, mà biểu hiện không chỉ là trụy mạch (huyết áp tâm thu dưới 90mmHg), mà còn có thiểu niệu, vô niệu, rối loạn ý thức, đầu chi nhợt, lạnh ẩm, toan huyết (có khi biểu hiện bằng thở chu kỳ). – Các biến chứng cơ học: Thường xảy ra trong tuần lễ đầu với các nguy cơ vỡ thành tự do thất trái; vỡ (thủng, rách) vách liên thất tạo ra một “thông liên thất mắc phải cấp” làm xuất hiện một âm thổi tâm thu mới; đứt rách cơ nhú như đứt rời hoặc chỉ rách hoặc chỉ rối loạn chức năng cơ nhú ở cột cơ của một trong hai lá van, tạo nên sa van, sinh ra hở hai lá cấp, với triệu chứng phụt ngược rất rõ, xuất hiện một âm thổi tâm thu mới. – Các biến chứng huyết khối, thuyên tắc: Biến chứng nhồi máu cơ tim này gây nguy cơ tái phát nhồi máu cơ tim khiến hoại tử lan rộng hoặc thêm hoại tử cơ tim mới thuyên tắc đại tuần hoàn. Thuyên tắc đại tuần hoàn thường xuất hiện sau 1-3 tuần, cục huyết khối xuất phát từ mặt trong thành thất trái, di chuyển theo dòng máu tới não, mạc treo, các chi, hiếm khi chui vào mạch vành. Thuyên tắc động mạch phổi, nếu người bị nhồi máu cơ tim đã nằm bất động quá dài hay lạm dụng thuốc lợi tiểu khiến máu cô đặc hơn thì biến chứng càng dễ xảy ra. – Các biến chứng sớm khác: Viêm màng ngoài tim cấp, xảy ra ngay sau mấy ngày đầu với biểu hiện đau dữ dội ngay phía sau xương ức lan ra sau lưng. Trong các biến chứng này thì đột tử là nặng nề nhất.

3. Đối tượng dễ có khả năng bị đau tim nhất?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Những đối tượng nào dễ có khả năng bị đau tim cao nhất là những người có nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành. Trong đó bao gồm: – Các yếu tố nguy cơ không thay đổi được:

  • Tuổi tác: Động mạch ở người lớn tuổi rất dễ bị tổn thương và trở nên hẹp hơn.
  • Giới tính: Nam giới có nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành cao hơn nữ giới.
  • Tiền sử gia đình: Nếu có người thân mắc bệnh mạch vành, đột quỵ thì nguy cơ bạn cũng mắc các bệnh này cao hơn.

– Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được:

  • Cao huyết áp.
  • Hút thuốc lá, kể cả hút thuốc lá thụ động
  • Tăng cholesterol máu (lượng mỡ trong máu cao).
  • Tiểu đường, đề kháng insulin.
  • Thừa cân, béo phì.
  • Lười vận động.
  • Nghiện bia rượu

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương

4. Làm gì khi bị lên cơn đau tim?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Đau tim là tình trạng y tế khẩn cấp, các cơ tim có thể đang chết đi từng phút và không thể hồi phục được. Do đó, người bệnh cần được điều trị khẩn trương để tăng cơ hội sống và giới hạn tình trạng tổn thương tim. Nếu bạn nghĩ bạn hoặc một người xung quanh đang có các dấu hiệu của đau tim, nên nhanh chóng gọi xe cấp cứu hoặc nhờ bạn bè, người thân đưa đến cơ sở y tế gần nhất. Khi đến khoa cấp cứu, hãy nói ngay là đang bị đau tim để được chú ý và can thiệp ngay lập tức. Để quá trình điều trị được thuận lợi, cần cung cấp cho bác sĩ một số thông tin như: Cơn đau tim bắt đầu từ lúc nào? Tính chất cơn đau thay đổi như thế nào từ khi bắt đầu? Các bệnh đang mắc phải cùng các thuốc đang dùng thường xuyên để điều trị? Các thuốc đã dùng từ khi xuất hiện cơn đau? Trong thời gian chờ đợi đưa đến cơ sở y tế, có thể áp dụng một số cách sơ cứu người bị đau tim như sau: – Nới rộng quần áo ở cổ, ngực, bụng, ngồi hoặc nằm ở tư thế thoải mái, đầu và vai được nâng đỡ, đầu gối gấp để giảm gánh nặng cho tim. Cố gắng giữ tâm trạng bình tĩnh, tránh hoảng loạn. – Sử dụng thuốc aspirin: Nhai một liều aspirin dạng viên nén (300mg) để giúp làm tan cục máu đông và làm giảm thiểu tổn thương cơ tim. Không được dùng trong trường hợp bị dị ứng hoặc có các chống chỉ định đặc biệt mà bác sĩ không cho sử dụng. Dùng Nitroglycerin hoặc các thuốc khác đã được bác sĩ kê đơn trước đó để sơ cứu người bị đau tim. Không dùng các thuốc tim mạch của người khác vì có thể khiến bệnh nhân gặp các tình huống nguy hiểm hơn. – Nếu tình trạng của bệnh nhân nguy kịch, hãy tiến hành hồi sinh tim phổi (CPR) cho bệnh nhân. Khi cơn đau tim xảy ra, sẽ rất khó để lên kế hoạch phải làm gì để sơ cứu người bị đau tim, do đó nếu bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch và đã từng có những cơn đau thắt ngực trước đó, nên chuẩn bị các phương án trước khi cơn đau tim xảy ra như: Số điện thoại cấp cứu của cơ sở y tế gần nhất, số điện thoại người thân sẽ hỗ trợ, các thuốc điều trị luôn cần mang theo bên người…

5. Có “thời gian vàng” điều trị cơn đau tim không?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Người bị nhồi máu cơ tim cần được tái lưu thông mạch máu nuôi tim càng sớm càng tốt nhằm hạn chế tế bào cơ tim bị tổn thương và hoại tử. Thời gian vàng là 60 phút kể từ xuất hiện triệu chứng, hoặc càng sớm càng tốt vì theo thời gian sẽ làm tăng tỉ lệ tử vong, sẽ tốt hơn nếu được can thiệp trong vòng 12 giờ đầu. Sau 24 giờ nếu không còn triệu chứng thì việc can thiệp được khuyên là không nên tiến hành. Chính vì vậy, ngay có dấu hiệu nêu trên, người bệnh cần nhanh chóng đến cơ sở y tế có chuyên khoa tim mạch để được chẩn đoán và can thiệp kịp thời.

6. Tỷ lệ điều trị thành công và sống sót sau cơn đau tim?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Tỉ lệ điều trị thành công và phục hồi sau cơn nhồi máu cơ tim phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm: Độ rộng vùng nhồi máu (nói đúng hơn, khối lượng vùng cơ tim hoại tử) càng lớn, có huyết áp hạ > 30 mmHg, có sốt, sự xuất hiện các biến chứng như loạn nhịp tim (nhất là rung thất) ngay trong vòng 2 giờ đầu tiên, suy tim sung huyết(phù phổi cấp), sốc tim, vỡ tim, huyết khối/thuyên tắc thì tiên lượng xếp vào loại xấu, nguy cơ tử vong cao. Do đó cùng là nhồi máu cơ tim cả nhưng tiên lượng khác xa nhau, và cả độ vất vả và khó khăn chữa trị khác xa nhau, quy trình điều trị phục hồi chức năng tim mạch cũng khác nhau (ví dụ như ai cần được vận động sớm, ai thì cần trì hoãn) Nhìn chung, nếu không được điều trị kịp thời, tỉ lệ tử vong trong 4 tuần lễ đầu sau cơn nhồi máu cơ tim là 30 – 40%, trong đó ½ dồn vào giờ đầu, thường là chưa vào viện, mà chủ yếu do rung thất và loạn nhịp tim khác.

7. Điều gì làm ảnh hưởng đến tiên lượng sau điều trị  đau tim?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Tiên lượng sau điều trị nhồi máu cơ tim cấp chia thành tiên lượng ngắn hạn (28 ngày sau nhồi máu cơ tim), trung hạn (3-6 tháng sau nhồi máu cơ tim) và dài hạn (sau 1 năm nhồi máu cơ tim). Theo đó, các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng phục hồi sau điều trị nhồi máu cơ tim bao gồm: tuổi (càng lớn tuổi thì tiên lượng phục hồi càng kém), bệnh đồng mắc (càng nhiều bệnh đồng mắc thì tiên lượng phục hồi càng kém, đặc biệt là suy tim, đái tháo đường, suy thận, bệnh phổi mạn tính, bệnh lý mạch máu não), tiền căn nhồi máu cơ tim lần trước, biến chứng xảy ra trong đợt nhồi máu cơ tim lần này (suy tim, rối loạn nhịp tim, ngưng tim, choáng tim), tính sẵn có của phương tiện điều trị tim mạch, vùng thành thị/nông thôn, vùng địa lý và đặc điểm kinh tế xã hội quyết định tính tuân thủ điều trị của bệnh nhân. >>> Xem thêm: Các giai đoạn phục hồi chức năng tim mạch sau cơn đau tim

8. Bệnh nhân sau điều trị cơn đau tim sức khỏe và tâm lý sẽ ra sao?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Một bệnh nhân được cứu sống sau cơn đau tim thì sức khỏe cũng bị suy giảm, bao gồm sức khỏe thể chất và cả sức khỏe tinh thần Về sức khỏe thể chất thì bệnh nhân cảm thấy yếu hơn, chưa quay lại sinh hoạt bình thường ngay được. Hầu hết những người từng trải qua một cơn nhồi máu cơ tim sẽ được ở lại bệnh viện điều trị theo dõi ngắn nhất là 48 giờ với trường hợp nhẹ và phát hiện sớm, nhưng trung bình là 1-2 tuần, trường hợp có biến chứng thì lâu hơn. Sau khi xuất viện, về nhà bệnh nhân cũng mất 1 thời gian nữa để hồi phục sức khỏe, mức độ phục hồi nhanh chậm tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh và phản ứng của cơ thể sau cơn đau tim cũng như chế độ tập luyện phục hồi chức năng tim mạch. Về sức khỏe tinh thần thì sau nhồi máu cơ tim, tâm trạng và cảm xúc của người bệnh có thể bị thay đổi. Ba trạng thái thường gặp nhất là: sợ hãi, tức giận và trầm cảm. Cho nên người thân cần chú ý thông cảm, động viên, khích lệ người bệnh để người bệnh có thể lấy lại cuộc sống bình thường trong thời gian sớm nhất.

9. Tỷ lệ tái phát sau cơn đau tim phụ thuộc vào điều gì?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Nhồi máu cơ tim có thể tái phát sau điều trị, tỉ lệ chiếm 5 – 20% tùy bệnh nhân, phụ thuộc chủ yếuvào mức độ tổn thương của hệ động mạch vành ghi lại được sau lần chụp mạch vành đầu tiên, nếu có nhiều nhánh động mạch vành tổn thương, nhiều mảng xơ vữa thì nguy cơ tái phát cao; bệnh nhân có bệnh nền tiểu đường, suy thận, rối loạn lipid máu đáp ứng kém điều trị, chưa bỏ được thuốc lá, tuân thủ điều trị kém thì nguy cơ tái phát sẽ rất cao. Tắc nghẽn có thể xảy ra ở những vị trí khác trên hệ động mạch vành bị xơ vữa. Nếu bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ mà còn không tuân thủ điều trị, bệnh có thể tái phát chỉ sau 6 tháng – 2 năm đặt stent. Và nguy hiểm hơn khi bị tái hẹp hoặc tắc stent gây nhồi máu cơ tim, bệnh nhân buộc phải thực hiện can thiệp tim mạch lần 2 với kỹ thuật phức tạp và chi phí tốn kém hơn như đặt stent trong lòng stent, hoặc phẫu thuật bắc cầu và tất nhiên, thời gian hồi phục sẽ lâu hơn.

Thay đổi lối sống và chế độ sinh hoạt giúp bạn giảm nguy cơ tái phát, cũng như tiên lượng sống kéo dài hơn Thay đổi lối sống và chế độ sinh hoạt giúp bạn giảm nguy cơ tái phát, cũng như tiên lượng sống kéo dài hơn

10. Cách để phục hồi tim và kéo dài sự sống sau khi bị đau tim?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Để phục hồi sức khỏe tim mạch và kéo dài đời sống sau cơn đau tim được cứu sống, người bệnh cần chú ý: – Tập luyện sau cơn đau tim Các bài tập thể dục đóng vai trò rất quan trọng đối với những người đang trong giai đoạn hồi phục sau cơn nhồi máu cơ tim. Nhưng trước khi bắt đầu thực hiện, người bệnh nên tham khảo ý kiến bác sĩ để lựa chọn môn thể thao thích hợp. Ban đầu, họ có thể tập một số động tác yoga, dưỡng sinh nhẹ nhàng hoặc đi bộ 30 phút mỗi ngày, lưu ý nên điều chỉnh từ từ, tăng mức độ bài tập từ dễ đến khó. Hiện nay, có nhiều bệnh viện và phòng khám cung cấp các chương trình phục hồi chức năng tim mạch bao gồm các chương trình tập thể dục, những bài tập giúp đối phó với sự căng thẳng, kèm theo nhiều thông tin về chế độ ăn uống, sinh hoạt tình dục đúng cách, các phác đồ điều trị bổ sung và nhiều vấn đề khác. Tham gia các chương trình phục hồi chức năng tim cũng mang lại cho người bệnh cơ hội giao lưu với người khác, để cùng chia sẻ các mối quan tâm, cảm xúc, khó khăn mà họ đang gặp phải. Chắc chắn rằng, mỗi người bệnh sẽ học hỏi thêm được nhiều kiến thức bổ ích, những kinh nghiệm để vượt qua khó khăn và có thêm niềm tin, sự lạc quan trong hành trình tìm lại sức khỏe. – Thay đổi lối sống sau cơn đau tim Có thể nói những cơn đau tim xuất hiện, phần lớn là do thói quen sinh hoạt hàng ngày tác động. Vì vậy để bảo vệ sức khỏe bản thân trong tương lai, người từng bị đau tim hay tất cả chúng ta nên ngừng hút thuốc lá và có chế độ ăn uống khoa học. Theo kết quả nghiên cứu khoa học mới đây của Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ, chế độ ăn kiểu Địa Trung Hải, sử dụng dầu oliu và chất béo không bão hòa rất có lợi cho sức khỏe của người mắc bệnh tim mạch. Hơn một nửa lượng chất béo trong chế độ ăn này đến từ chất béo không bão hòa đơn, chúng không làm tăng cholesterol trong máu, nhờ đó sẽ giúp hạn chế cơn đau tim tái phát và giảm thiểu nguy cơ đột quỵ và tử vong. Mỗi quốc gia, vùng miền sẽ có một cách áp dụng khác nhau, tuy nhiên mô hình của chế độ ăn có đặc điểm như sau: Tiêu thụ nhiều trái cây, rau quả, bánh mì và các loại ngũ cốc, khoai tây, đậu, các loại hạt Dầu ô liu là một nguồn chất béo không bão hòa đơn quan trọng Các sản phẩm từ sữa, cá và gia cầm được tiêu thụ ở mức thấp một lượng vừa phải, và ăn ít thịt đỏ (thịt bò, lợn,…) Không sử dụng quá 4 quả trứng một tuần Rượu được tiêu thụ ở mức thấp với một lượng vừa phải Tránh thức quá khuya hay làm việc quá sức, nên biết cách kiểm soát công việc của mình để không làm ảnh hưởng đến suy nghĩ, gây căng thẳng, stress cũng là cách để bảo vệ bạn khỏi cơn đau tim tái phát. Một số nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng những người bệnh xuất hiện các cơn đau tim thường có nguy cơ gặp chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn đường thở (OSA). Vì vậy, bác sỹ khuyên họ nên thực hiện một số xét nghiệm sàng lọc cho OSA. – Kiểm soát cảm xúc sau cơn đau tim Một cơn đau tim có thể để lại cho người bệnh cảm giác lo lắng và sợ hãi, thậm chí là trầm cảm trong suốt một thời gian dài. Trầm cảm có thể kéo dài tới 6 tháng với những dấu hiệu như rối loạn giấc ngủ, mất ngủ, chán ăn, cảm thấy mệt mỏi và vô cảm với mọi thứ. Một số trường hợp cần phải sử dụng thuốc trầm cảm hoặc sự giúp đỡ của các bác sỹ tâm lý. Người bệnh cũng nên chia sẻ mọi triệu chứng mình gặp phải với gia đình và bạn bè, đồng nghiệp. Đây là những người giúp họ thoát khỏi sang chấn về tâm lý, tình cảm và phòng tránh cơn đau tim tái phát một cách tích cực nhất.

Benhdotquy.net

Phân biệt khó thở do suy tim và hen suyễn

Phân biệt khó thở do suy tim và hen suyễn

Khó thở là triệu chứng thường gặp, nhưng không phải lúc nào cũng do cùng một nguyên nhân. Trong thực hành lâm sàng, hai tình trạng dễ gây nhầm lẫn là khó thở do suy tim và khó thở do hen suyễn. Việc phân biệt đúng có ý nghĩa quan trọng trong xử trí và điều trị.

Video

Hướng dẫn kỹ năng “Ép tim – thổi ngạt” để cứu người

Hướng dẫn kỹ năng “Ép tim – thổi ngạt” để cứu người

Thời gian gần đây, các ca ngưng tim, ngưng thở xảy ra nhiều hơn, trong đó không ít trường hợp diễn ra ngay tại nhà hoặc nơi công cộng trước khi kịp tiếp cận y tế. Ít ai biết rằng vài phút đầu tiên chính là “thời gian vàng” quyết định sự sống còn. Video dưới đây hướng dẫn quy trình ép tim, thổi ngạt theo chuẩn lâm sàng, giúp mỗi người biết cách xử trí đúng khi khẩn cấp xảy ra, bảo vệ chính mình và hỗ trợ người xung quanh.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ