Khi nào người bị ngất cần thực hiện nghiệm pháp bàn nghiêng?

Người thường xuyên bị ngất gặp nhiều phiền toái và nguy hiểm, BS.CK1 Cao Thị Lan Hương hướng dẫn cần thăm khám thế nào để tìm ra nguyên nhân gây ngất, khi nào cần thực hiện nghiệm pháp bàn nghiêng, thực hiện ở bệnh viện nào…

09-01-2023 11:43
Theo dõi trên |

1. Người thường xuyên bị ngất cần làm gì để tìm ra nguyên nhân gây ngất?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương:

Ngất là tình trạng mất ý thức tạm thời do giảm tưới máu toàn bộ não với các đặc trưng: khởi phát nhanh, trong thời gian ngắn, tự hồi phục hoàn toàn. Bệnh nhân có biểu hiện không cử động được, đầu chi lạnh, mạch yếu và thở nông. Đôi khi xảy ra hiện tượng giật cơ ngắn, ngoài ý muốn, giống cơn động kinh.

Tuy tự hồi phục hoàn toàn nhưng trong nhiều trường hợp ngất gây ra hậu quả nghiêm trọng là chấn thương, nhất là khi đang điều khiển phương tiện cơ giới, khi đang leo trèo, khi 1 mình (trong nhà vệ sinh…).

Ngất có thể do các nguyên nhân từ tim hoặc không từ tim, để chẩn đoán nguyên nhân gây ngất, bác sĩ sẽ khai thác rất kỹ tiền sử các bệnh từng mắc, thuốc đang sử dụng, tình huống xảy ra ngất, những mô tả của người chứng kiến tình huống người bệnh ngất rất quan trọng, kết hợp với khám lâm sàng và thực hiện 1 số xét nghiệm để hỗ trợ chẩn đoán

Các xét nghiệm thường được thực hiện bao gồm:

– Đo độ bão hòa oxy qua da để xác định tình trạng hạ oxy máu (gợi ý chẩn đoán tắc mạch phổi). Nếu có tình trạng hạ oxy máu, người bệnh sẽ có chỉ định chụp CT phổi để loại trừ tắc mạch phổi.

– Điện tâm đồ (ECG): Có thể phát hiện được tình trạng nhịp tim bất thường và các vấn đề tim mạch khác có thể gây choáng ngất. Trong một số trường hợp khó phát hiện, có thể cần phải đeo máy điện tâm đồ di động một ngày hoặc kéo dài một tháng để theo dõi những bất thường.

– Siêu âm tim: Là sử dụng sóng siêu âm để khảo sát bệnh lý của tim. Có thể thấy được các vấn đề của tim như bệnh lý về van, cơ tim, dị tật bẩm sinh… có thể gây choáng ngất

– Nghiệm pháp gắng sức: Là thực việc nghiên cứu nhịp tim trong khi tập luyện. Người bệnh sẽ đeo máy theo dõi nhịp tim trong khi đi bộ hoặc chạy bộ trên máy chạy bộ.

– Xét nghiệm máu: Công thức máu có thể giúp đánh giá bệnh lý của hệ tạo máu cơ bản, như thiếu máu, tình trạng này cũng có thể gây ra hoặc góp phần vào cơn choáng ngất.

– Thử nghiệm bàn nghiêng: Nếu như không có vấn đề về tim gây ra ngất, người bệnh có thể cần phải trải qua một thử nghiệm bàn nghiêng. Người bệnh nằm thẳng trên bàn, sau đó bàn thay đổi vị trí, nghiêng lên ở các góc khác nhau và đồng thời theo dõi nhịp tim, huyết áp để xem những thay đổi do tư thế ảnh hưởng đến. Khi làm nghiệm pháp bàn nghiêng có thể đánh giá được người bệnh có tình trạng giả ngất do tâm lý hay ngất do thần kinh phế vị.

– Đo điện não đồ nếu nghi ngờ động kinh.

– Chụp CT và MRI sọ não khi có các triệu chứng cơ năng và thực thể gợi ý bệnh lý thần kinh trung ương khu trú.

>> Xem thêm: Chụp cộng hưởng từ MRI tìm ra những bệnh gì?

2. Những nguyên nhân gây ngất thường gặp là gì?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương:

Ngất được chia làm 2 loại chính: ngất do bệnh tim và ngất không do bệnh tim.

2.1 Ngất do bệnh tim

Khi một bệnh nhân có ngất, nhất là khi ngất tái phát nhiều lần, thầy thuốc sẽ tiến hành hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng và làm các kỹ thuật bổ sung như: điện tâm đồ, holter điện tâm đồ, siêu âm tim, nghiệm pháp điện tâm đồ gắng sức, siêu âm tim gắng sức, chụp mạch vành, thăm dò điện sinh lý tim, thiết bị theo dõi nhịp tim từ xa nhằm phát hiện bệnh tim: bệnh tim cấu trúc, suy tim, bệnh mạch vành, rối loạn nhịp tim.

>> Xem thêm: Hội chứng mạch vành cấp nguy hiểm ra sao?

Ngất do bệnh tim thường có tiên lượng xấu.

2.2 Ngất không do bệnh tim

Sau khi đã loại trừ bệnh tim, thầy thuốc sẽ kết luận ngất không do bệnh tim. Ngất không do bệnh tim thường có tiên lượng lành hơn, trừ khi bị chấn thương do ngã khi ngất. Ngất không do bệnh tim bao gồm: tụt huyết áp tư thế đứng, ngất do phản xạ xoang cảnh, ngất do phản xạ phế vị, ngất không rõ nguyên nhân.

Ngất do tụt huyết áp ở tư thế đứng thường xảy ra ở người cao tuổi. Huyết áp tụt có thể do quá liều thuốc hạ áp, do uống không đủ nước, do tiêu chảy, do suy hệ thần kinh tự chủ, do đứng lâu.

Ngất do phản xạ thường xảy ra ở người trẻ, thường có các yếu tố thúc đẩy như: xúc cảm, đau, sợ hãi (sợ máu, sợ mổ…), mùi vị khó chịu, cảnh kinh dị, đi tiểu, nuốt vội, thụt, ho, hắt xì, sau gắng sức, cười nhiều, đám đông ngột ngạt, nóng – lạnh, cổ áo hoặc cravate quá chặt. Ngất do phản xạ thường có nhịp tim chậm, thậm chí vô tâm thu trong một khoảng thời gian ngắn. Trước khi ngất do phản xạ thường có tiền triệu: xanh tái, vã mồ hôi, buồn nôn – nôn.

Các nguyên nhân khác: Một số trường hợp bị ngất không do bệnh tim, qua thăm khám thông thường không xác định được là ngất do phản xạ hay do tụt huyết áp tư thế đứng. Một số trường hợp mất ý thức nhưng chưa xác định là ngất hay do nguyên nhân khác như động kinh, giả ngất do rối loạn tâm lý (Histeria).

>> Xem thêm: Hạ huyết áp tư thế đứng nguy hiểm thế nào?

Trong quá trình thăm khám, thầy thuốc thường áp dụng các kỹ thuật như xoa xoang cảnh, test đứng chủ động, test thở sâu, test Valsalva và nhất là nghiệm pháp bàn nghiêng để góp phần chẩn đoán nguyên nhân. Đây là 1 kỹ thuật khá đơn giản, dễ thực hiện và an toàn, góp phần khá hiệu quả trong việc xác định ngất do tụt huyết áp ở tư thế đứng hay do phản xạ, hoặc phân biệt ngất với động kinh, giả ngất do tâm lý.

Lưu ý rằng, chúng ta có đến 1/3 trường hợp ngất không rõ nguyên nhân.

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương hướng dẫn bạn đọc Benhdotquy.net cần thăm khám thế nào để tìm ra nguyên nhân gây ngất, khi nào cần thực hiện nghiệm pháp bàn nghiêng, thực hiện ở bệnh viện nào…

3. Trường hợp nào người hay bị ngất cần làm nghiệm pháp bàn nghiêng?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương:

Ở tư thế đứng thẳng hoặc đứng nghiêng, máu có xu hướng dồn xuống chân, điều này ít nhiều làm cho lượng máu về tim rồi lên não giảm đi.

Bình thường cơ thể đáp ứng qua trung gian thần kinh thực vật bằng tăng nhẹ huyết áp (thần kinh tự chủ) và tần số tim (phản xạ phế vị).

– Nếu thần kinh tự chủ bị suy thì huyết áp không những không tăng mà còn giảm, gây ngất do tụt huyết áp ở tư thế đứng (orthostatic hypotension).

– Nếu phản xạ thần kinh thực vật bị rối loạn thì nhịp tim không những không tăng mà ngược lại còn giảm, thậm chí vô tâm thu 1 thời gian ngắn, khi đó ngất xảy ra, gọi là ngất do cường phế vị (vasovagal syncope).

– Một số trường hợp rối loạn đáp ứng qua trung gian thần kinh thể hiện bằng tăng tần số tim quá mức, thường tăng từ 30 nhịp/phút trở lên, gọi là tim nhanh phản xạ do tư thế đứng (PoTS: Postural Tachycardia syndrome).

Trên cơ sở đó, những trường hợp đã từng bị ngất, nhất là ngất nhiều lần, đã được xác định là ngất không do bệnh tim, những trường hợp cần phân biệt ngất hay động kinh, giả ngất do rối loạn tâm lý, hoặc bị ngã nhiều lần mà không xác định được nguyên nhân thì có chỉ định làm nghiệm pháp bàn nghiêng (NPBN).

Nghiệm pháp bàn nghiêng được áp dụng để chẩn đoán nguyên nhân ngất với những đối tượng sau:

– Bệnh nhân tương đối trẻ và khỏe mạnh

– Bệnh nhân cao tuổi chưa rõ chẩn đoán sau khi đã làm nhiều thăm dò xét nghiệm về tim mạch khác

4. Trường hợp nào bệnh nhân chống chỉ định với nghiệm pháp bàn nghiêng?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương:

Nghiệm pháp này chống chỉ định với:

– Bệnh lý mạch máu não

– Hẹp động mạch cảnh 2 bên đáng kể

– Phụ nữ có thai

– Bệnh lý cơ tim phì đại có hẹp tắc nghẽn đường ra thất trái.

– Hẹp van động mạch chủ nặng

– Bệnh động mạch vành nặng

– Hẹp van hai lá nặng

– Suy tim

5. Ưu – nhược điểm nghiệm pháp bàn nghiêng là gì?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương:

Ưu điểm:

– Kỹ thuật khá đơn giản, dễ thực hiện và an toàn.

– Góp phần khá hiệu quả trong việc xác định ngất do tụt huyết áp ở tư thế đứng hay do phản xạ, hoặc phân biệt ngất với động kinh, giả ngất do tâm lý.

– Xác định những trường hợp bị ngất liên quan đến hệ thần kinh thực vật, như ngất do phản xạ quá nhạy cảm của hệ tim mạch.

Nhược điểm:

– Nghiệm pháp đòi hỏi bệnh nhân phải thay đổi tư thế trong một khoảng thời gian nhất định được theo dõi liên tục nếu tư thế đó tạo ra những triệu chứng của ngất.

6. Trước khi thực hiện nghiệm pháp bàn nghiêng, người bệnh cần chuẩn bị ra sao?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương:

– Trước khi tiến hành nghiệm pháp bàn nghiêng, bệnh nhân sẽ được giải thích kỹ càng về nguyên lý, cách thức tiến hành và các tình huống đáp ứng có thể xảy ra để có sự phối hợp tốt nhất.

– Bệnh nhân cần nhịn ăn và uống 4 tiếng trước khi tiến hành nhằm tránh sặc thức ăn hoặc nước khi ngất. Nếu bạn bị tiểu đường, hãy hỏi cách uống thuốc, ăn và uống trước khi làm thủ thuật.

– Mặc quần áo thoải mái đến bệnh viện. Tốt nhất là không đeo bất kỳ đồ trang sức hoặc mang theo đồ có giá trị.

– Hẹn với người thân đưa bạn về nhà sau bài kiểm tra kết thúc.

Chuẩn bị thực hiện:

– Bệnh nhân được mắc các điện cực trước tim và điện cực ngoại biên ở tay và chân.

– Lắp băng cuốn huyết áp ở cánh tay.

– Đặt đường truyền tĩnh mạch.

– Bệnh nhân nằm ngửa được cố định bằng hệ thống đai bảo vệ chắc chắn vào bàn.

– Các thông số theo dõi liên tục bao gồm: nhịp tim, huyết áp, SpO­2.

7. Nghiệm pháp bàn nghiêng được thực hiện như thế nào? Thời gian kéo dài bao lâu?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương:

Nghiệm pháp bàn nghiêng được tiến hành trong phòng yên tĩnh, nhiệt độ ổn định, có đầu cung cấp Oxy, đầu hút, monitor huyết áp và điện tâm đồ, máy ghi điện tâm đồ, các trang bị và thuốc cấp cứu.

Người bệnh được đặt nằm trên một chiếc bàn đặc biệt có thể nâng lên từ 60 đến 80 độ và hạ nhanh về tư thế nằm ngang trong 10 giây, trong khi điều dưỡng và bác sĩ theo dõi huyết áp và nhịp tim. Mắc đai cố định ở gối, ở hông và ngang vai. Đặt đường truyền tĩnh mạch để qua đó xử trí thuốc nếu cần.

Người bệnh nằm ngửa trên một bàn được cơ giới hóa trong khoảng năm phút. Chiếc bàn sẽ được nâng lên đến vị trí gần như thẳng đứng và duy trì vị trí này từ 5 đến 45 phút, tùy thuộc vào lý do tiến hành.

Người bệnh sẽ được yêu cầu giữ yên cơ thể và báo cáo các dấu hiệu hay triệu chứng như buồn nôn, đổ mồ hôi, chóng mặt hoặc nhịp tim không đều và ngất. Nếu cảm thấy không thoải mái, người bệnh nên thông báo ngay cho điều dưỡng hoặc bác sĩ.

Trong trường hợp người bệnh không bị ngất hoặc không có các triệu chứng khác sau 20 phút, người bệnh sẽ được xịt dưới lưỡi thuốc Nitroglycerin. Thuốc này có thể thúc đẩy phản xạ bất thường của hệ thần kinh, khiến người bệnh ngất xỉu.

Sau đó, người bệnh vẫn giữ tư thế thẳng đứng trong 15 đến 20 phút nữa. Nhịp tim và huyết áp của người bệnh sẽ được theo dõi ở mỗi vị trí bàn để đánh giá phản ứng của tim mạch với từng sự thay đổi vị trí.

Nếu người bệnh bị ngất trong khi bàn đang ở vị trí thẳng đứng, bàn sẽ được đưa về vị trí nằm ngang ngay lập tức để tiếp tục theo dõi. Hầu hết người bệnh đều lấy lại ý thức gần như ngay lập tức.

Trong một số trường hợp, nếu huyết áp và nhịp tim thay đổi cho thấy người bệnh sắp ngất, bàn sẽ được đưa trở lại vị trí nằm ngang để người bệnh không bị mất ý thức. Khi nghiệm pháp hoàn tất, người bệnh có thể trở lại các hoạt động bình thường.

Nghiệm pháp bàn nghiêng có thể kéo dài khoảng 60 phút nếu người bệnh có thực hiện giai đoạn 2 (tiêm thuốc tĩnh mạch). Nếu chỉ thực hiện một giai đoạn, nghiệm pháp thường hoàn tất trong vòng 30 đến 40 phút.

8. Trước khi thực hiện nghiệm pháp bàn nghiêng, bác sĩ sẽ giải thích thế nào để bệnh nhân bớt lo lắng?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương:

Nghiệm pháp bàn nghiêng tương đối an toàn và hiếm khi xảy ra biến chứng nặng nề.

Nghiệm pháp được thực hiện ở phòng có các trang bị đầy đủ phương tiện và thuốc cấp cứu.

Đai cố định 3 vị trí ở gối, ở hông và ngang vai đảm bảo người bệnh không thể té khỏi bàn.

Đường truyền tĩnh mạch đã được đặt sẵn để qua đó xử trí thuốc nếu cần.

Dấu hiệu sinh tồn được theo dõi liên tục dưới sự giám sát của bác sĩ và điều dưỡng có kinh nghiệm.

Nếu người bệnh bị ngất trong khi bàn đang ở vị trí thẳng đứng, bàn sẽ được đưa về vị trí nằm ngang ngay lập tức để tiếp tục theo dõi. Hầu hết người bệnh đều lấy lại ý thức gần như ngay lập tức.

Trong một số trường hợp, nếu huyết áp và nhịp tim thay đổi cho thấy người bệnh sắp ngất, bàn sẽ được đưa trở lại vị trí nằm ngang để người bệnh không bị mất ý thức. Khi nghiệm pháp hoàn tất, người bệnh có thể trở lại các hoạt động bình thường.

9. Bệnh nhân thường bị khó chịu gì sau khi thực hiện xong?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương:

Trong quá trình thực hiện nghiệm pháp bàn nghiêng, người bệnh có thể có cảm giác chóng mặt, lo lắng, hồi hộp, tim đập nhanh, vã mồ hôi lạnh, buồn nôn-nôn và thậm chí là ngất.

Bác sĩ sẽ ghi nhận các triệu chứng này, khi người bệnh sắp ngất hoặc ngất, bàn sẽ được đưa về vị trí nằm ngang ngay lập tức để tiếp tục theo dõi, khi người bệnh cảm thấy ổn định tâm lý và hết khó chịu thì bác sĩ mới kết thúc nghiệm pháp.

Nếu có khó chịu gì, hãy báo với bác sĩ của bạn để được xử trí kịp thời tại chỗ trước khi bước ra khỏi phòng kiểm tra.

Khi nghiệm pháp hoàn tất, người bệnh có thể trở lại các hoạt động bình thường.

10. Hiện nay những bệnh viện nào có nghiệm pháp bàn nghiêng?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương:

Hiện nay, những bệnh viện có chuyên khoa tim mạch lớn mạnh đều triển khai kỹ thuật nghiệm pháp bàn nghiêng tại khoa tim mạch của bệnh viện, có thể kế đến như Bệnh viện Nhân dân 115, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Tim Tâm Đức…

Benhdotquy.net

Nữ ca sĩ Phi Phi qua đời trong lúc biểu diễn, nghi do đột quỵ

Nữ ca sĩ Phi Phi qua đời trong lúc biểu diễn, nghi do đột quỵ

Nữ ca sĩ người Trung Quốc khi đang biểu diễn trong tiệc sinh nhật bất ngờ ngã xuống rồi ngất . Cô được đưa tới bệnh viên cấp cứu nhưng không qua khỏi.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ