Dự phòng đột quỵ trong 90 ngày sau cơn thiếu máu não thoáng qua, cần làm gì?

Thiếu máu não thoáng qua là dấu hiệu cảnh báo của bệnh đột quỵ. ThS.BS Thái Huy – khoa Thần kinh Bệnh viện Đại học Y dược TPHCM sẽ giải đáp tất cả thắc mắc cho quý bạn đọc về cơn thiếu máu não thoáng qua.

10-12-2022 23:57
Theo dõi trên |

1 Vì sao đột quỵ có thể xảy ra phát sau 90 ngày xuất hiện cơn thiếu máu não thoáng qua?

Một số người bệnh cao huyết áp, đái tháo đường có nguy cơ tái phát cao hơn so với người thường không?

ThS.BS Thái Huy:

Các nghiên cứu cho thấy, sau cơn đột quỵ nhẹ tỷ lệ tái phát của đột quỵ sẽ tăng dần theo thời gian. Thời gian tăng nhanh nhất là 3 tháng đầu. Đối với nhóm này, họ ghi nhận nhóm có nguy cơ tái phát nhất là nhóm người có bệnh lý mạch máu lớn, chúng ta thấy nguy cơ tái phát của đột quỵ có liên quan đến thang điểm tái phát sau cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA).

Tương tự như đột quỵ, đường biểu diễn sẽ đi lên một cách nhanh nhất và tỷ lệ tái phát là 3 tháng đầu. Chúng ta thấy tỷ lệ tái phát của người bệnh khá cao.

Thứ hai, đó là ý nghĩa dự phòng TIA. Một người có khiếm khuyết thần kinh thấp thì chúng ta dự phòng, ý nghĩa sẽ đạt cao hơn so với người có khiếm khuyết thần kinh. Sau khi điều trị TIA, nó sẽ giúp giảm nguy cơ tái phát đột quỵ sớm.

Huyết áp tăng dần, tỷ lệ tái phát đột quỵ sẽ tăng dần lên. Mức độ tăng sẽ theo độ tuổi. Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất, góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong do đột quỵ gây ra. Nếu huyết áp tâm thu tăng lên 20 mmHg và huyết áp tâm trương tăng 10 mmHg, nguy cơ đột quỵ tăng gấp 2 lần. Nếu kiểm soát huyết áp kém, tình trạng sa sút trí tuệ sẽ xuất hiện.

Trong phòng ngừa nguyên phát, một yếu tố nguy cơ được đề cập nữa là đái tháo đường (tiểu đường). Tiểu đường là một căn bệnh mãn tính, thông thường tổn thương do đột quỵ sẽ nặng và tiên lượng hồi phục sẽ kém. HB1AC là chỉ số dùng để đánh giá người bệnh có kiểm soát được tiểu đường tốt hay không. Hb1AC giảm 1% là sẽ giảm được 12% nguy cơ đột quỵ.

>>> Xem thêm: Biến chứng tim mạch nào chờ đợi người bệnh đái tháo đường?

Yếu tố nguy cơ thứ ba là rung nhĩ, rung nhĩ là tình trạng rối loạn khi nhịp tim co bóp. Chính tình trạng rối loạn nhịp tim khiến tim co bóp không đồng đều. Cục máu đông sẽ dễ hình thành trong tim, máu đông sẽ chạy lên não gây đột quỵ nhồi máu não.

Người bệnh rung nhĩ (rối loạn nhịp tim) sẽ làm tăng nguy cơ đột quỵ lên gấp 5 lần, nguy cơ này sẽ tăng theo tuổi, 23.5% nhóm người có độ tuổi từ 80-89 sẽ bị rung nhĩ. Con số cao gấp 15 lần so với nhóm từ 50-59 tuổi. Nếu kiểm soát được rung nhĩ sẽ giảm được 70% đột quỵ tái phát.

Rối loạn lipid (máu nhiễm mỡ) cũng là một yếu tố nguy cơ.

Đây là một công việc yêu cầu góp sức dần dần, nếu chúng ta kiểm soát tốt huyết áp, mỡ máu, đường huyết, rung nhĩ thì việc dự phòng đột quỵ sẽ càng hiệu quả.

2. Sau khi kiểm soát được cơn đột quỵ trong 90 ngày, người bệnh có thể trở về với cuộc sống bình thường không?

ThS.BS Thái Huy:

Sau 90 ngày, nguy cơ vẫn còn nhưng nếu một người không bị khiếm khuyết về thần kinh, đột quỵ nhẹ thì họ có thể trở về cuộc sống bình thường sau khi tập luyện.

Tuy nhiên, người bệnh sẽ phải uống thuốc dự phòng đột quỵ cũng như kiểm soát yếu tố nguy cơ tim mạch. Trong quá trình nằm viện người bệnh đã được kiểm soát rồi nhưng về nhà vẫn phải tiếp tục kiểm soát.

3. Sau quá trình cấp cứu đột quỵ, người bệnh được bố trí lịch tái khám trong 90 ngày tiếp theo ra sao?

ThS.BS Thái Huy:

Khi một người nhập viện do đột quỵ cấp, thời gian trung bình là từ 5 đến 7 ngày. Nguy cơ tái phát sẽ rất cao trong 5 ngày đầu. Vì vậy, người bệnh sẽ được theo dõi ở phòng chăm sóc đặc biệt.

Người bệnh sẽ được tầm soát và chẩn đoán nguyên nhân đột quỵ, nếu tình trạng khiếm khuyết gây hạn chế vận động thì người bệnh sẽ được hướng dẫn tập vật lý trị liệu.

Khi dấu hiệu thần kinh được cải thiện, người bệnh sẽ được xuất viện và tái khám từ 5 đến 7 ngày để đánh giá hiệu quả điều trị. Nếu sức khỏe ổn định, người bệnh có thể tái khám mỗi tháng 1 lần.

ThS.BS Thái Huy - khoa Thần kinh Bệnh viện Đại học Y dược TPHCM sẽ giải đáp về cơn thiếu máu não thoáng quaThS.BS Thái Huy – khoa Thần kinh Bệnh viện Đại học Y dược TPHCM sẽ giải đáp về cơn thiếu máu não thoáng qua

4. Thuốc kháng đông và thuốc kháng kết tập tiểu cầu khác nhau như thế nào?

ThS.BS Thái Huy:

Trước tiên chúng ta cần biết về quá trình đông cầm máu. Trong máu có nhiều tế bào, một tế bào gọi là tiểu cầu có chức năng đông cầm máu.

Khi mạch máu tổn thương, viêm, bong tróc mảng xơ vữa thì các yếu tố nội mô thu hút tiểu cầu đến để cầm máu tại chỗ. Khi tiểu cầu kết tập lại, nó sẽ thu hút hồng cầu để cầm máu. Đây là quá trình đông máu và tạo ra sợi Fibrin không tan, các sợi Fibrin sẽ bám vào nút chặn tiểu cầu và hình thành cục máu đông, giúp cầm máu tại chỗ.

Trong nhồi máu não, có 4 nhóm nguyên nhân lớn: bệnh lý mạch máu nhỏ, xơ vữa mạch máu lớn, thuyên tắc từ tim, căn nguyên khác.

Đối với bệnh lý mạch máu nhỏ: tăng huyết áp, tiểu đường sẽ gây ảnh hưởng đến các mạch máu nhỏ. Các mạch máu lớn có thể xảy ra do tăng mỡ máu, tăng cholesterol gây tắc mạch.

Đối với thuyên tắc từ tim, liên quan đến bệnh lý cơ tim, bệnh rối loạn nhịp tim. Các bệnh lý về huyết học tăng đông máu, gây ra nhồi máu não.

Nếu một người bị thuyên tắc từ tim, sẽ điều trị bằng thuốc kháng đông. Nếu đó là do xơ vữa mạch máu nhỏ hoặc các nguyên nhân khác thì đa số dùng thuốc kháng kết tập tiểu cầu.

5. Nếu người dùng thuốc uống thêm thuốc dự phòng đột quỵ có gây ảnh hưởng gì không?

ThS.BS Thái Huy:

Đột quỵ là sự tích lũy của nhiều yếu tố nguy cơ, quá trình này xảy ra khiến nhiều người lo sợ mình sẽ bị tái phát đột quỵ. Vì vậy, việc điều trị dự phòng đột quỵ sẽ là suốt đời.

Trong quá trình điều trị, chúng ta phát hiện ra yếu tố nguy cơ khác thì sẽ phối hợp điều trị. Các bệnh lý như tăng huyết áp, tiểu đường cũng cần điều trị song song để dự phòng đột quỵ.

Với một người có bệnh đồng mắc, cần chú ý và chọn thuốc cũng như giảm nguy cơ gặp tác dụng phụ của thuốc.

6. Làm sao để giảm nguy cơ bị tác dụng phụ của thuốc dự phòng đột quỵ?

ThS.BS Thái Huy:

Người bị tăng huyết áp và tiểu đường thường gặp vấn đề về gan và thận. Hầu hết các loại thuốc đều được thải qua gan và thận. Bác sĩ sẽ khai thác thêm bệnh nền của người bệnh và lựa chọn thuốc phù hợp.

Nếu người bệnh bị tăng huyết áp và tiểu đường thì bác sĩ sẽ lựa chọn thuốc ức chế men chuyển để hạ áp và chống tái cấu trúc không tốt cho tim mạch, giảm nguy cơ đột quỵ, giảm ảnh hưởng thận.

Cần biết rõ chức năng gan và thận để có thể lựa chọn thuốc. Ví dụ như người bệnh có vấn đề về gan, sẽ chọn thuốc chuyên được thải qua thận. Ngược lại, người bệnh thận thì dùng thuốc được thải qua gan.

Nếu người bệnh đột quỵ gặp vấn đề về cơ xương khớp, nên thông báo cho các bác sĩ về các loại thuốc mình đang sử dụng. Mục đích là hạn chế tác dụng phụ khi uống thuốc, khi người bệnh đột quỵ bị đau khớp, các loại thuốc điều trị có thể có tác dụng phụ như viêm dạ dày, xuất huyết tiêu hóa.

Ngoài ra cần lưu ý thuốc đào thải chậm hay tác dụng nhanh để dặn dò người bệnh dùng đúng cách. Nếu thuốc đào thải chậm mà người bệnh bẻ ra, nó sẽ làm thay đổi nồng độ thuốc dễ gây ra tác dụng phụ.

Trọng Dy (ghi) – Benhdotquy.net

Nguồn: Vai trò của tuân thủ điều trị trên người bệnh đột quỵ, thiếu máu não thoáng qua – BV ĐHYD


Có cách nào phân biệt đột quỵ với triệu chứng huyết áp thấp?

Có cách nào phân biệt đột quỵ với triệu chứng huyết áp thấp?

1. Huyết áp thấp là tình trạng như thế nào? BS.CK1 Trần Ái Thanh: Huyết áp bình thường có chỉ số là 120/80 mmHg. Huyết áp thấp là khi chỉ số huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg và huyết áp tâm trương dưới 60mmHg. Huyết áp thấp chia thành 2 nhóm: huyết áp thấp …

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ