Cách kiểm soát và điều trị rối loạn nhịp tim ở người bệnh tăng huyết áp

Nhịp tim thất thường có thể gây ảnh hưởng đến đời sống của một người. Không những vậy, nó còn gây ra tình trạng nhồi máu cơ tim, đột quỵ và bệnh thận, thậm chí tử vong. GS.TS.BS Trương Quang Bình – Phó Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM và Giám đốc Trung tâm tim mạch sẽ giải đáp tất cả thắc mắc cho quý bạn đọc về rối loạn nhịp tim ở người tăng huyết áp và cách kiểm soát đúng.

01-09-2022 10:16
Theo dõi trên |

GS.TS.BS Trương Quang Bình

1. Hiểu về bệnh lý tăng huyết áp sao cho đúng

1.1 Huyết áp là gì và chỉ số như thế nào là cao?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời: Trong tiếng Anh, huyết áp là Blood Pressure, tức là áp lực của dòng máu tác động lên thành động mạch. Cụ thể, hệ thống tuần hoàn của chúng ta có những mạch máu được gọi là động mạch. Máu sẽ chảy trong ống động mạch, và áp lực của máu tác động trên thành mạch được gọi là huyết áp. Khi chúng ta đo huyết áp tại phòng khám, bệnh viện, chỉ số huyết áp tối đa đạt đến 140 mmHg, huyết áp tối thiểu là 90 mmHg được xem là tăng huyết áp. Chỉ cần đạt một trong 2 số trên, ví dụ như 140/80 mmHg hoặc 130/89 mmHg cũng được xem là tăng huyết áp tại phòng khám. Trong cộng đồng, nhiều người rất quan tâm đến huyết áp. Dù họ chưa bị tăng huyết áp, họ vẫn mua máy đo huyết để tại nhà. Tuy nhiên, khi đo huyết áp tại nhà, chỉ số sẽ khác. Nếu ở nhà, chỉ cần huyết áp tâm thu lên đến 135mmHg và tâm trương 85 mmHg, tình trạng này đã được gọi là tăng huyết áp. Thường chỉ số sẽ thấp hơn 5 mm Hg so với mức đo tại phòng khám hay bệnh viện. Vì vậy, nó tùy thuộc vào vị trí đo sẽ khác nhau. Lưu ý, khi đo huyết áp cần nghỉ ngơi trước 10 phút rồi hãy đo. Lúc đó, chỉ số mới phản ánh đúng huyết áp của chúng ta. Ví dụ như chúng ta đang chạy cầu thang 2 hay 3 tầng rồi ngồi xuống đo huyết áp, chỉ số đó không được chấp nhận là người đó bị tăng huyết áp. >>> Xem thêm: Tăng huyết áp và những biến chứng nguy hiểm mà bạn cần biết!

1.2 Biến chứng của tăng huyết áp nguy hiểm như thế nào?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời: Khi một người bị tăng huyết áp, nhiều cơ quan sẽ gặp biến chứng. Bao gồm: – Biến chứng trên não cực kỳ nguy hiểm, có thể gây ra tình trạng nhồi máu não, tắc mạch não, xuất huyết màng não. – Biến chứng vùng tim khiến thành tim của chúng ta dày lên, dẫn đến bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim. – Biến chứng ở thận. Khi một người bị tăng huyết áp lâu dài, họ có thể tiểu ra chất đạm. Sau đó, tình trạng suy thận diễn tiến theo từng mức độ 1, 2, 3 và 4. Bệnh nhân có thể phải chạy thận nhân tạo. – Biến chứng trên mắt. Nếu người bệnh bị tăng huyết áp trong thời gian lâu, họ có thể bị phù đáy mắt và dẫn đến tình trạng mờ mặt và mất thị lực. – Biến chứng trên mạch máu ngoại biên. Người bị tăng huyết áp có thể bị xơ cứng, xơ vữa động mạch ở chân, chi dưới, ở tay… Tình trạng đó có thể gây tắc những động mạch đó dẫn đến tình trạng thiếu máu cơ chi, hoại tử chi. Ở trên thế giới, đây là tình trạng cộng đồng thường gặp. Theo thống kê trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh thay đổi theo dân số trưởng thành từ 30 đến 40%. Riêng tại Việt Nam, có nhiều thống kê. Thống kê từ năm 1960 do GS Đặng Văn Chung cho thấy, cộng đồng chúng ta chỉ có 1% người bị tăng huyết áp. Tuy nhiên, nghiên cứu lớn trên khắp tỉnh thành năm 1990 và 1991, thì tỷ lệ người trưởng thành bị tăng huyết áp chiếm đến 11.6%. Đến năm 2008 hay 2009, có những công bố khác và những mẫu nghiên cứu nhỏ hơn thực hiện ở thành thị, tỷ lệ lên đến 25%. Vào năm 2018, gần 40% người trưởng thành ở Việt Nam bị tăng huyết áp. Ước tính, cứ 2 người trên 60 tuổi, có 1 người bị tăng huyết áp.

Tăng huyết áp lâu dài gây ra biến chứng nặng nề, có thể dẫn tới tử vong. Tăng huyết áp lâu dài gây ra biến chứng nặng nề, có thể dẫn tới tử vong.

1.3 Vì sao bệnh tăng huyết áp có xu hướng trẻ hóa?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời: Có khoảng 90 đến 95% người bị tăng huyết áp không tìm ra được nguyên nhân (vô căn). Chỉ có 5 đến 10% người bị tăng huyết áp có nguyên nhân. Đối với nhóm người tăng huyết áp vô căn, có những yếu tố nguy cơ khiến họ bị tăng huyết áp. Ví dụ, người sống ở thành thị dễ bị tăng huyết áp hơn so với người thôn quê. Lối sống công nghiệp hóa khiến một người dễ tăng huyết áp hơn so với cuộc sống ít căng thẳng. Bên cạnh đó, chế độ ăn nhiều cũng dẫn đến tăng huyết áp nhiều hơn ăn nhạt. Chính những điều này đã tác động đến cộng đồng chúng ta, khiến tình trạng tăng huyết áp ở thành thị ngày càng tăng. Người trẻ có xu hướng bị tăng huyết áp hơn so với những người khác. Còn ở nhóm tăng huyết áp có nguyên nhân, tình trạng này xảy ra ở người trẻ. Ví dụ như sử dụng thuốc ngừa thai, thuốc cam thảo lâu ngày, có những bất thường ở hệ tim mạch như hẹp động mạch chủ, hẹp động mạch thận, u tủy thượng thận, u thượng thận, thường xảy ra ở người trẻ và chúng ta ít quan tâm. Do đó, cần chú ý đến nhóm người này để tìm ra được nguyên nhân. Khi có nguyên nhân, chúng ta mới có thể điều trị để dứt hẳn. Mặt khác, chúng ta cũng cần quan tâm đến những người tăng huyết áp vô căn, vì số lượng quá nhiều.

1.4 Làm sao để nhận biết được triệu chứng của bệnh tăng huyết áp?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời: Tăng huyết áp là một bệnh rất dễ chẩn đoán, chỉ cần đo huyết áp chúng ta có thể biết được huyết áp của người bệnh. Nhưng hiện tại, chúng ta đang nói về triệu chứng của người tăng huyết áp. Đây là triệu chứng rất quan trọng vì nếu bệnh có triệu chứng, người bệnh sẽ nhận biết được và đến ngay thầy thuốc. Tuy nhiên, khoảng 80 đến 90% người tăng huyết áp không có triệu chứng, tức là nhiều người bị tăng huyết áp nhưng vẫn khỏe mạnh. Ví dụ như bệnh nhân hay bị nhức đầu ở vùng chẩm vào buổi sáng, thấy hoa mắt thoáng qua, đi tiểu đêm nhiều hơn lúc trước, hoặc cảm thấy chân tay bị tê bì sau đó hết. Những triệu chứng đó không đặc hiệu cho một triệu chứng nào, vì vậy tăng huyết áp có thể bị lầm lẫn với các triệu chứng khác. Đây chính là vấn đề rất nguy hiểm, do nhiều người tăng huyết áp lâu ngày không hay biết dẫn đến biến cố, và khi bệnh nhân nhập viện thì mới biết những biến cố ở tim, não, thận là do tăng huyết áp gây ra. Đó cũng là vì sao tăng huyết áp có biệt danh là sát thủ thầm lặng.

2. Vai trò của kiểm soát nhịp tim ở người bệnh tăng huyết áp

2.1 Mối quan hệ giữa nhịp tim và huyết áp là gì?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời:huyết áp và nhịp timChúng ta cần phân biệt nhịp tim khác với tần số tim và huyết áp. Nhịp tim bao gồm nhịp tim đều hay không đều và nhịp tim đó xuất phát từ vị trí nào của tim. Còn tần số tim là số lần tim đập, hay số lần tim co bóp trong một phút. Huyết áp là áp lực của máu tác động trên thành mạch, nó khác hẳn so với tần số tim. Khi chúng ta đo huyết áp trong máy điện tử, thường trên màn hình sẽ hiển thị 3 trị số: trị số trên, trị số giữa, trị số cuối. Trị số cuối cùng thường có hình trái tim hay không có tim. Trị số đầu tiên là trị số huyết áp tâm thu. Trị số giữa gọi là huyết áp tâm trương. Trị số cuối là tần số tim tức là tim chúng ta đập bao nhiêu lần trong một phút. Bác sĩ có thể bắt mạch để biết được mạch nảy lên được bao nhiêu trong một phút. Để có được kết quả chính xác, bác sĩ sẽ đặt ống nghe trên thành ngực và nghe tim đập. Bằng cách nhìn máy đo huyết áp, bắt mạch và được bác sĩ nghe tim bao nhiêu lần trong một phút, chúng ta sẽ thu được kết quả chính xác nhất.

2.2. Người bị tăng huyết áp, nhịp tim bao nhiêu là an toàn và rối loạn?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời: Ở người bình thường, tần số tim được xem là ổn khi dao động từ 60 đến 100 lần trong một phút. Nếu trên 100 lần một phút, đó là tim đập nhanh. Nếu dưới 60 lần trong một phút, là nhịp tim chậm. Khi tim chúng ta đập nhanh quá, dẫn đến làm việc nhiều và lâu ngày tim không còn khỏe mạnh nữa. Tình trạng này còn được gọi là suy tim. Nếu nhịp tim đập chậm quá, nó sẽ không bơm máu đủ đến các cơ quan. Máu lên não không đủ gây ra triệu chứng choáng váng, ngất đi. Còn đối với tần số tim tối ưu ở người có các bệnh lý đi kèm, sẽ không còn dao động từ 60 đến 100 lần. Ngược lại, người bị bệnh tim mạch thì tần số tim của họ nhanh hơn 80 – 90 lần một phút. Nếu người càng có tần số tim càng nhanh thì càng dễ xảy ra biến cố tim mạch hơn. Ví dụ người có tần số tim dưới 70 lần một phút, tỷ lệ biến cố xảy ra trên 1000 người là 3.3. Nếu tần số trên 85 lần một phút, biến cố về tim mạch có thể xảy ra 10%. Trong dao động từ 60 đến 100 lần, những người ở trên 85 lần một phút sẽ dễ gặp biến cố nhiều hơn. Như vậy, chúng ta có thể kết luận tần số tim không trên 100 lần có thể gây ra biến cố tim mạch cho người chưa có bệnh tim. Đối với người tăng huyết áp, khi trị số huyết áp của họ càng cao, tỷ lệ tử vong do tim mạch càng lớn. Nếu huyết áp của chúng ta là 135/85mmHg, khi tăng huyết áp lên 155/95mmHg thì chỉ số huyết áp tâm thu sẽ tăng lên 20 và huyết áp tâm trương sẽ tăng lên 10. Như vậy, nguy cơ biến cố tim mạch tăng gấp đôi. Nếu huyết áp tăng lên 175/105mmHg thì nguy cơ tử vong do tim mạch cũng tăng gấp đôi. Người càng có tần suất tim càng cao, nguy cơ tử vong do biến cố tim mạch càng cao. Nếu có cả 2 yếu tố vừa tăng huyết áp vừa tăng số tim, nguy cơ tử vong sẽ rất lớn. Chúng ta nên theo dõi chỉ số huyết áp, nếu vừa phải thì đỡ, nhưng tăng cao quá sẽ nguy hiểm. Cần phải khảo sát thêm để biết được tần số tim của mình là bao nhiêu. Nếu tần số của tim tối ưu dưới 70, kết quả tốt. Ngược lại, trên 70sẽ không tốt cho người bệnh vì hai hay nhiều nguy cơ gặp nhau, khả năng xảy ra biến cố càng tăng thêm theo cấp số nhân. >>> Xem thêm: 13 biện pháp tự nhiên giúp kiểm soát huyết áp tại nhà

2.3 Cách kiểm soát nhịp tim tại nhà?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời: Có 3 cách để chúng ta biết được tim chúng ta đập bao nhiêu lần trong một phút, biết được tần số tim. Đầu tiên, cần có máy đo huyết áp tại nhà, giúp biết được trị số huyết áp cho người bệnh và tim chúng ta đập bao nhiêu lần trong một phút. Theo dõi trên màn hình có 3 trị số trên, giữa và cuối. Trị số cuối cùng là tần số tim. Ví dụ như 87 lần một phút hay 67 lần một phút. Cách thứ hai là bắt mạch. Chúng ta sẽ để tay lên mạch đập và thấy mạch nảy lên tay của mình là bao nhiêu. Người bệnh sẽ để đồng hồ hết một vòng rồi đếm. Thứ 3 là nhờ chuyên môn, khi khám bệnh chúng ta nên hỏi bác sĩ tim mình đập bao nhiêu lần trong một phút, bác sĩ sẽ bắt mạch hay nghe tim.

2.4 Triệu chứng rối loạn nhịp tim biểu hiện ra sao?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời: Tình trạng rối loạn nhịp tim khác với tần số tim. Khi tần số tim trên 100 lần một phút, chúng ta có thể cảm thấy hồi hộp, đánh trống ngực. Nếu tần số tim dưới 60 lần một phút, tim của chúng ta sẽ đập mạnh. Nếu đập chậm, tim sẽ gây ra tình trạng thiếu máu ở mô, thiếu máu não. Đó là triệu chứng để chúng ta biết được tần số tim đập nhanh hay chậm. Nếu rối loạn nhịp tim, nó sẽ khác. Ví dụ như bệnh nhân có tình trạng rung nhĩ, nhịp tim đập lung tung, bệnh nhân sẽ hồi hộp, có tình trạng đánh trống ngực và nếu nguy hiểm hơn, bệnh nhân có thể bị ngất, ngưng tim…

Nên có máy đo huyết áp để kiểm soát nhịp tim, huyết áp tại nhà. Nên có máy đo huyết áp để kiểm soát nhịp tim, huyết áp tại nhà.

3. Các phương pháp kiểm soát nhịp tim ở người bệnh tăng huyết áp

3.1 Người bệnh tăng huyết áp bị rối loạn tim sẽ gặp hệ lụy gì?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời: Đối với người chưa mắc bệnh nhưng có tần số tim nhanh, nếu tình trạng đó kéo dài lâu ngày nó có thể dẫn đến suy tim. Nhóm người tim đập nhanh như vậy, nguy cơ xảy ra biến cố tim mạch rất nhiều. Đối với người bệnh tim, nó còn quan trọng hơn. Ví dụ như một số người bị suy tim, chúng ta cần kiểm soát nhịp tim dưới 70 lần một phút. Nếu trên 70 lần một phút, nguy cơ bệnh tim sẽ tăng và người đó sẽ càng có nguy cơ tử vong hơn. Người bị bệnh thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, nên giữ nhịp tim đập từ 56 đến 60 lần một phút. Nếu nhịp tim tăng lên 80 đến 90, người đó dễ bị nhồi máu cơ tim, suy tim và cơn thiếu máu cơ tim. Tất cả các công trình nghiên cứu cho biết người bệnh tăng huyết áp cần đưa tần số tim dưới 70 lần một phút, tức là từ 60 đến 70 lần trong một phút. Nếu bệnh nhân tăng huyết áp bị thiếu máu cơ tim cục bộ, chúng ta cần đưa nhịp tim xuống 58 đến 60 lần một phút. Nếu để nhịp tim trên 70, 80 đến 85, nguy cơ biến cố tim mạch và tử vong do tim mạch sẽ tăng lên.

3.2 Phương pháp kiểm soát nhịp tim ở người bệnh tăng huyết áp?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời: Tần số tim bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Tăng huyết áp cũng có thể làm tăng tần số tim, lo âu và căng thẳng, hay thiếu luyện tập, thể lực yếu, thiếu máu cũng khiến tần số tim của chúng ta tăng lên. Tần số tim ở người có thai và người bệnh tuyến giáp-cường giáp cũng tăng. Khi chúng ta thấy một người bị tăng huyết áp và tần số tim tăng lên như vậy, cần kiểm tra xem bệnh nhân có yếu tố nguy cơ nào khác ngoài tăng huyết áp không. Chúng ta cần giải quyết những vấn đề đó. Ví dụ như người bệnh bị cường giáp, hay thiếu máu, chúng ta cần điều trị tình trạng này cho tốt và kiểm soát lo âu, căng thẳng hàng ngày.

3.3 Người bệnh có thể kiểm soát nhịp tim bằng thuốc không?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời: Chúng ta cần loại trừ những yếu tố nguy cơ tác động lên tim, khiến tim đập nhanh. Khi đã kiểm soát được tất cả yếu tố nguy cơ trên, cần giảm huyết áp và tần số tim đến mức chúng ta mong muốn. Khi hạ huyết áp đến mức mong muốn bằng thuốc hay không dùng thuốc, tần số tim cũng đã hạ theo. Huyết áp hạ được dưới 70 lần một phút, chúng ta đã đạt được yêu cầu mà bản thân mong muốn. Khi dùng thuốc hạ huyết áp, cần tránh các loại thuốc có tác dụng phụ khiến tần số tim đập nhanh hơn. Một số loại thuốc khiến huyết áp hạ xuống quá nhanh cũng khiến tần số tim tăng lên. Có một số loại thuốc vừa hạ huyết áp nhưng cũng hạ được tần số tim, thì thầy thuốc sẽ chọn loại thuốc vừa hạ được huyết áp và tần số tim cho người bệnh hoặc phối hợp một loại thuốc vừa giảm huyết áp và một loại thuốc giảm tần số tim, để chúng ta đạt được mục tiêu giảm huyết áp và tần số tim.

3.4 Dừng thuốc khi tần số tim và huyết áp ổn định, nên hay không?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời: Chúng ta sẽ kiểm soát các yếu tố gây ảnh hưởng đến tần số tim, khi đã kiểm soát hoàn toàn nhưng tần số tim vẫn còn nhanh. Lúc đó, chúng ta sẽ dùng thuốc để tần số tim giảm xuống. Bệnh nhân muốn kiểm soát được yếu tố tác động lên tần số tim và dùng thuốc nhằm kiểm soát tốt hơn. Khi giải thích được nguyên nhân, chúng ta có thể tạm ngưng hay giảm liều thuốc huyết áp giảm bớt tần số tim. Trong quá trình giảm như vậy, cần theo dõi tim có đập nhanh hay không. Nếu đã tác động tất cả các yếu tố mà tần số tim không giảm, chúng ta phải dùng thuốc để giảm tần số tim. Thuốc chỉ ở trong cơ thể từ 1 đến 2 ngày, nếu tần số tim đạt được mục tiêu mong muốn nhưng chúng ta ngừng dùng thuốc thì nhịp tim sẽ nhanh trở lại. Thậm chí trường hợp phản ứng dữ dội do ngưng thuốc đột ngột, nhịp tim sẽ càng đập nhanh hơn. Khi chúng ta muốn dừng thuốc hay giảm thuốc, cần giảm hay dừng dần dần chứ không được đột ngột. Người bệnh muốn dừng thuốc hay giảm liều đều phải tuân thủ chỉ định của thầy thuốc.

3.5 Những phương pháp điều trị rối loạn nhịp tim?

GS.TS.BS Trương Quang Bình trả lời: Có nhiều phương pháp để điều trị rối loạn nhịp tim. Ví dụ như rung nhĩ, chúng ta có những biện pháp thăm dò, cắt đốt để tim đập trở lại bình thường. Đối với ngoại tâm thu, tim đập lộn xộn, có nhịp đếm sớm, chúng ta có thể sử dụng thuốc, thăm dò để giải quyết những trường hợp đó. Riêng tần số tim nhanh như 90 lần một phút hay 105 lần một phút, chúng ta phải tìm ra được nguyên nhân khiến tần số tim nhanh. Khi đã can thiệp nhưng tần số tim còn nhanh, chúng ta sẽ sử dụng thuốc để kiểm soát tần số tim nhanh của người bệnh.

Trọng Dy (ghi), benhdotquy.net (Nguồn: BV Đại học Y dược TPHCM)

Phân biệt khó thở do suy tim và hen suyễn

Phân biệt khó thở do suy tim và hen suyễn

Khó thở là triệu chứng thường gặp, nhưng không phải lúc nào cũng do cùng một nguyên nhân. Trong thực hành lâm sàng, hai tình trạng dễ gây nhầm lẫn là khó thở do suy tim và khó thở do hen suyễn. Việc phân biệt đúng có ý nghĩa quan trọng trong xử trí và điều trị.

Video

Hướng dẫn kỹ năng “Ép tim – thổi ngạt” để cứu người

Hướng dẫn kỹ năng “Ép tim – thổi ngạt” để cứu người

Thời gian gần đây, các ca ngưng tim, ngưng thở xảy ra nhiều hơn, trong đó không ít trường hợp diễn ra ngay tại nhà hoặc nơi công cộng trước khi kịp tiếp cận y tế. Ít ai biết rằng vài phút đầu tiên chính là “thời gian vàng” quyết định sự sống còn. Video dưới đây hướng dẫn quy trình ép tim, thổi ngạt theo chuẩn lâm sàng, giúp mỗi người biết cách xử trí đúng khi khẩn cấp xảy ra, bảo vệ chính mình và hỗ trợ người xung quanh.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ