Bệnh nhân hậu COVID-19 liệu có nên dùng thuốc dự phòng đột quỵ?
Như thể các biến chứng hô hấp liên quan đến COVID-19 chưa đủ đáng lo ngại, các bác sĩ còn phát hiện thêm một nguy cơ khác do virus SARS-CoV-2 gây ra cục máu đông, có thể dẫn đến đột quỵ đe dọa tính mạng. Vậy, liệu cựu F0 có nên sử dụng thuốc để dự phòng nguy cơ đột quỵ lăm le?
Mục lục
1. Vì sao “cựu F0” có nguy cơ cao bị đột quỵ?
Một nghiên cứu được công bố trên JAMA vào tháng 4/2021 cho thấy, nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân COVID-19 cao hơn gấp đôi so với những người ở cùng độ tuổi, giới tính và dân tộc trong dân số nói chung.
Trong một nghiên cứu khác của Thụy Điển được công bố trên tạp chí The Lancet ngày 14/8/2021, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng trong vòng một tuần sau khi được chẩn đoán COVID-19, nguy cơ đau tim của họ cao gấp 3 – 8 lần và nguy cơ đột quỵ cao hơn từ 3 – 6 lần so với bình thường.
Các chuyên gia cũng nhận thấy rằng, nhiều F0 dù đã khỏi bệnh vẫn gặp hàng loạt các di chứng liên quan đến cục máu đông như: đột quỵ, nhồi máu cơ tim, thuyên tắc phổi.
Theo đó, các chuyên gia cho rằng COVID-19 làm tăng phản ứng viêm khiến mạch máu bị viêm từ đó làm tăng nguy cơ tăng đông dẫn đến sự hình thành huyết khối trong hệ động mạch và hệ tĩnh mạch.
Không những thế, bệnh nhân mắc COVID-19 còn có nguy cơ cao gây co thắt mạch máu làm tăng huyết áp dẫn đến xuất huyết não.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, dù một năm sau mắc COVID-19, bệnh nhân vẫn có nguy cơ đột quỵ hơn so với người khác.
COVID-19 làm tăng phản ứng viêm khiến mạch máu bị viêm từ đó làm tăng nguy cơ tăng đông dẫn đến sự hình thành huyết khối trong hệ động mạch và hệ tĩnh mạch (Ảnh minh hoạ)
2. Vậy có nên dùng thuốc kháng đông dự phòng đột quỵ cho bệnh nhân COVID-19?
Theo PGS.TS.BS Nguyễn Huy Thắng Phó chủ tịch Hội Đột quỵ Việt Nam, Chủ tịch Hội Đột quỵ TP.HCM, mặc dù cơ chế gây đột quỵ của COVID-19 liên quan rất nhiều đến việc hình thành huyết khối gây thuyên tắc mạch máu, tuy nhiên không chứng minh được lợi ích của việc sử dụng thường quy thuốc kháng đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu trên bệnh nhân nhiễm COVID-19 nhằm mục đích dự phòng đột quỵ.
PGS Thắng dẫn chứng một nghiên cứu cho thấy lợi ích của rivaroxaban trong việc làm giảm các biến cố thuyên tắc tĩnh mạch, mà không làm tăng các biến cố xuất huyết trên bệnh nhân nhiễm COVID-19 sau xuất viện, có nguy cơ thuyên tắc tĩnh mạch cao.
Ông cho biết thêm: “Việc sử dụng heparin trong lượng phân tử thấp cũng có thể làm giảm đáng kể nguy cơ thuyên tắc phổi và hệ thống ở bệnh nhân nhiễm COVID-19 nặng hoặc thở máy. Do đó, có thể cân nhắc chỉ định kháng đông trên các đối tượng phù hợp.”
Song, trên những bệnh nhân đột quỵ mức độ nặng (nhồi máu não diện rộng) ở giai đoạn cấp, việc sử dụng thuốc kháng đông hoặc kháng kết tập tiểu cầu nên được cân nhắc đến nguy cơ chuyển dạng xuất huyết trong ổ nhồi máu, PGS Thắng nhấn mạnh.
3. Cần lưu ý gì khi sử dụng thuốc dự phòng đột quỵ cho bệnh nhân có tiền sử COVID-19?
Có thể thấy, những bệnh nhân từng mắc COVID-19 thuộc “top” những đối tượng có nguy cơ cao bị đột quỵ, nhất là bệnh nhân có sẵn bệnh nền hoặc các yếu tố nguy cơ khác như: đái tháo đường, tăng huyết áp, rung nhĩ, rối loạn chuyển hóa lipid, hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, lười vận động, thừa cân béo phì…
Cho đến nay, việc phòng ngừa đột quỵ tiên phát trên bệnh nhân hậu COVID-19 chỉ bao gồm việc kiểm soát chặt các yếu tố nguy cơ kể trên.
Cụ thể, những bệnh nhân COVID-19 có tiền sử đột quỵ vẫn nên duy trì sử dụng kháng đông hoặc kháng kết tập tiểu cầu theo chỉ định của bác sĩ. Cần lưu ý rằng, bác sĩ đã kê thuốc dựa trên cơ chế đột quỵ trước đó, do đó bệnh nhân tuyệt đối không nên chuyển sang thuốc kháng đông chỉ vì hậu nhiễm COVID-19, PGS Thắng nhấn mạnh.
Riêng những bệnh nhân hậu COVID-19 có kèm các bệnh mạn tính khác, điều quan trọng nhất vẫn là duy trì sử dụng các thuốc điều trị dự phòng như trước đây theo chỉ định của bác sĩ.
PGS Thắng cũng lưu ý rằng, một số bác sĩ còn thói quen sử dụng thuốc kháng đông hoặc aspirin cho bệnh nhân COVID-19. Tuy nhiên, điều này cần tham khảo các thuốc dự phòng đột quỵ sẵn có của bệnh nhân trước đây để tránh việc trùng lắp, có thể làm tăng nguy cơ chảy máu.
Nguồn: CỔNG THÔNG TIN CỦA BỘ Y TẾ VỀ ĐẠI DỊCH COVID-19
Ngồi lâu, ít vận động: Mối nguy kép cho tim và đường huyết
Không chỉ người thừa cân, béo phì mới có nguy cơ mắc bệnh tim mạch và rối loạn đường huyết. Việc ngồi lâu, ít vận động trong thời gian dài cũng có thể âm thầm làm suy giảm sức khỏe chuyển hóa, tăng nguy cơ kháng insulin, tiểu đường type 2 và các bệnh lý tim mạch.
Multimedia
Theo dõi trên:Video
Còn 3–4,5 giờ đầu sau đột quỵ có nghĩa là chưa cần vội
Nhiều người cho rằng đột quỵ chỉ cần đến bệnh viện trong vòng 3–4,5 giờ đầu nên chưa cần quá gấp gáp khi xuất hiện triệu chứng. Tuy nhiên, đây là một quan niệm nguy hiểm. Trong đột quỵ, mỗi phút trôi qua có thể khiến hàng triệu tế bào não bị tổn thương không thể phục hồi. “Thời gian vàng” không phải là khoảng thời gian để chờ đợi, mà là khoảng thời gian quý giá để người bệnh được cấp cứu càng sớm càng tốt, giúp tăng cơ hội cứu não, giảm di chứng và nâng cao khả năng hồi phục.
Sống sót sau đột quỵ, làm gì để không bị lần 2?
Giới trẻ và đột quỵ: Khi lối sống hiện đại trở thành sát thủ âm thầm
Giải mã mối quan hệ nguy hiểm giữa đái tháo đường và đột quỵ
Phòng Tránh Đột Quỵ – Bắt Đầu Từ 5 Bài Tập Đơn Giản
Ngăn đột quỵ ngay từ phút đầu – Những điều nên biết
7 tình huống khiến đường huyết tăng vọt có thể bạn chưa biết














">
">
"> 
