Bệnh động mạch ngoại biên tăng 3 – 4 lần nguy cơ mắc bệnh mạch máu não
Bệnh động mạch ngoại biên là biểu hiện thông thường nhất của xơ vữa động mạch, có khoảng gần 75% trường hợp không có triệu chứng khi mắc căn bệnh này. Bệnh động mạch ngoại biên nếu không được phát hiện, chẩn đoán và điều trị sớm, người bệnh có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ thậm chí tử vong trong vòng 5 năm.
Mục lục
1. Bệnh động mạch ngoại biên là gì?
Bệnh động mạch ngoại biên là tình trạng hẹp của các động mạch ngoại biên của chân, tay, một số nội tạng hay của đầu mà thường gặp nhất là hẹp các động mạch của cẳng chân. Bệnh này không bao gồm các động mạch chi phối cho tim hay não (hai trường hợp này được gọi là bệnh động mạch vành và bệnh mạch máu não).

2. Nguyên nhân dẫn đến bệnh động mạch ngoại biên là gì?
Bệnh động mạch ngoại biên thường gây ra bởi xơ vữa. Trong xơ vữa, các lắng đọng mỡ (các mảng) bên trong thành các động mạch làm giảm dòng máu. Mặc dù tim thường là trung tâm thảo luận của xơ vữa, bệnh này cũng thường ảnh hưởng đến các động mạch ở khắp cơ thể bạn. Khi nó xảy ra cho các động mạch cung cấp máu cho các chi, nó sẽ gây ra bệnh động mạch ngoại biên .
Ít gặp hơn, nguyên nhân của bệnh động mạch ngoại biên có thể do viêm mạch máu, tổn thương các chi, giải phẫu không bình thường của các dây chằng hay các cơ, hay phơi nhiễm phóng xạ.
3. Bệnh động mạch ngoại biên thường gặp ở nhóm người nào?
Có khoảng gần 75% trường hợp không có triệu chứng. Bệnh động mạch ngoại biên hiện có xu hướng tăng lên cùng với sự tăng của tuổi thọ, lối sống thay đổi và đặc biệt là các yếu tố nguy cơ tim mạch gia tăng. Sau tuổi 70, khoảng 20% dân số bị bệnh động mạch ngoại biên.
Những nguy cơ cao bị bệnh động mạch ngoại biên bao gồm: Hút thuốc lá; bệnh tiểu đường; tăng huyết áp; rối loạn mỡ máu; béo phì; gia đình có người bị bệnh động mạch ngoại biên, bệnh tim hay đột quỵ; nồng độ cao homocysteine, một thành phần protein giúp tạo ra và duy trì mô…
Trong số đó, hút thuốc lá và đái tháo đường là 2 nguy cơ bị bệnh đặc biệt cao. Nếu bạn có dù chỉ một những nguy cơ trên của bệnh động mạch ngoại biên, hãy tìm hiểu về bệnh. Cũng như các bệnh lý khác, bạn càng hiểu biết về bệnh bao nhiêu thì bạn có thể giúp phát hiện bệnh sớm bấy nhiêu.
Xem thêm: Bệnh động mạch ngoại biên (PAD): Chẩn đoán, điều trị và các biến chứng
4. Dấu hiệu đặc trưng nào cho biết bệnh động mạch ngoại biên?
Khi mắc bệnh động mạch ngoại biên, chân của bệnh nhân không được cung cấp đủ lượng máu cần thiết để vận động, dẫn đến triệu chứng đau chân khi đi lại, hay còn gọi là chứng khập khiễng cách hồi. Vị trí đau thường gặp nhất là ở bắp chân. Triệu chứng này sẽ biến mất khi bệnh nhân nghỉ ngơi trong thời gian vài phút.
Trong trường hợp nặng, bệnh nhân có thể bị đau chân khi nghỉ, loét hay nguy hiểm nhất là hoại tử ngón chân, bàn chân. Do đó, khi có một trong các biểu hiện kể trên, người bệnh nên đi khám ngay để có thể được cứu chữa kịp thời, giảm được nguy cơ cắt cụt chân và các biến cố về tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ
Khoảng 20% người mắc bệnh động mạch ngoại biên nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc thậm chí tử vong trong vòng 5 năm.
5. Bệnh động mạch ngoại biên và đột quỵ có mối liên hệ như thế nào?
Bệnh động mạch ngoại biên và đột quỵ có mối liên hệ khá chặt chẽ. Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, 25% người mắc bệnh động mạch ngoại biên có nguy cơ bị hẹp động mạch cảnh không triệu chứng cao hơn 70% người bệnh có triệu chứng kèm theo. Tỷ lệ người mắc bệnh động mạch ngoại biên bị bệnh mạch máu não đồng thời cũng cao gấp 3-4 lần so với người không bị bệnh động mạch ngoại biên.
Tỷ lệ đột quỵ ở người mắc bệnh động mạch ngoại biên dao động từ 2-5%. Các yếu tố làm tăng nguy cơ đột quỵ ở bệnh động mạch ngoại biên là tuổi cao, tăng huyết áp, đái tháo đường, rung nhĩ.
6. Bệnh động mạch ngoại biên gây ra những biến chứng nguy hiểm nào?
Khi bạn bị bệnh động mạch ngoại biên do các mảng ở thành mạch (xơ vữa), bạn cũng có nguy cơ bị:
Thiếu máu chi đáng kể. Bệnh khởi đầu bằng các cơn đau không khỏi, tổn thương hay nhiễm trùng bàn chân hay cẳng chân. Nhiễm trùng có thể đưa đến hoại thư, đôi khi phải đoạn chi.
Đột quỵ và cơn đau tim do mỡ lắng đọng tại các động mạch nuôi tim và não, thường gặp hơn ở những người bị bệnh động mạch ngoại biên.
7. Chẩn đoán bệnh động mạch ngoại biên như thế nào?
Trong chẩn đoán bệnh động mạch ngoại biên, triệu chứng đau cách hồi với những tính chất kể trên và thăm khám lâm sàng (như bắt mạch chân tìm dấu hiệu mạch đập yếu hay mất mạch) là rất quan trọng.
Thăm dò kiểm tra chỉ số mạch cổ chân – cổ tay (ankle-brachial index) cũng thường được làm. Đây là một thăm dò đơn giản, không gây đau và bác sĩ có thể thực hiện dễ dàng chỉ trong vài phút. Bằng cách so sánh áp lực máu ở cổ chân với áp lực máu ở cổ tay của bạn, bác sĩ có thể đánh giá tốc độ dòng máu chảy ở chân có tốt không. Bình thường áp lực dòng máu ở mắt cá chân tối thiểu bằng 90% áp lực dòng máu ở tay, nhưng với các trường hợp hẹp nặng nó có thể nhỏ hơn 50% áp lực dòng máu ở tay. Nếu kết quả đo bất thường, bạn có thể bị bệnh động mạch cảnh phối hợp.
Ngoài ra, bác sĩ có thể cho bạn làm thêm một số thăm dò khác như:
Siêu âm Doppler mạch máu: Đây là một phương pháp chẩn đoán không xâm nhập, sử dụng các sóng âm để giúp khảo sát mạch máu và đánh giá tốc độ dòng chảy của mạch để qua đó xác định tình trạng tắc nghẽn.
Chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT) mạch máu: Đây cũng là một phương pháp thăm dò không xâm nhập. Kết quả cho phép đánh giá rộng rãi các động mạch nghi ngờ tổn thương, từ động mạch chủ bụng, động mạch chậu tới động mạch chi. Phương pháp này đặc biệt có ích với những bệnh nhân có tiền sử đặt máy tạo nhịp tim hay đặt stent. Hiện nay, với phương pháp chụp cắt lớp biên tính đa dãy, hình ảnh tổn thương mạch máu được dựng lại rất rõ ràng với độ chính xác khá cao.

Chụp cộng hưởng từ: Đây là một phương pháp không xâm nhập cung cấp thông tin tương tự như chụp cắt lớp biên tính mạch máu, nhưng không dùng tia X. Tuy nhiên, những bệnh nhân có tiền sử đặt máy tạo nhịp không thể áp dụng được phương pháp này.
Chụp động mạch cản quang: Trong phương pháp này, chất cản quang được tiêm vào mạch máu và hình ảnh mạch máu được quan sát dưới màn huỳnh quang để phát hiện ra chỗ tắc nghẽn, mức độ tổn thương và sự có mặt hay không của các mạch máu đi tắt qua chỗ hẹp (tuần hoàn bàng hệ). Ngoài giá trị chẩn đoán, phương pháp này còn cho phép có thể kết hợp điều trị bằng nong hoặc đặt stent tại vị trí tổn thương.
Xem thêm: Nguy cơ đột quỵ xuất huyết não do bệnh mạch máu dạng bột
8. Trị bệnh động mạch ngoại biên bằng những phương pháp nào?
Nguyên tắc điều trị bệnh động mạch ngoại biên là giảm triệu chứng đau và phòng những tiến triển xấu của bệnh như: cắt cụt chân, cơn đau thắt ngực hay đột quỵ. Bác sĩ sẽ quyết định phương pháp điều trị nào là thích hợp với bạn dựa trên tình trạng toàn thân và mức độ trầm trọng của bệnh.
Trong phần lớn các trường hợp, thay đổi lối sống, tập thể dục và dùng thuốc đều có thể làm chậm sự tiến triển hay đẩy lùi triệu chứng của bệnh. Với những trường hợp tổn thương thiếu máu nặng, tuần hoàn bàng hệ kém, người bệnh có thể được xem xét điều trị bằng phương pháp can thiệp đặt stent hoặc phẫu thuật bắc cầu nối để tránh biến chứng cắt cụt chi.
Luyện tập
Phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho bệnh động mạch ngoại biên là thường xuyên luyện tập. Bác sĩ sẽ giúp bạn có một chương trình luyện tập phù hợp. Bạn có thể bắt đầu một cách từ từ như đi bộ, tập các bài tập dành cho chân và các bài tập khác từ 3 đến 4 lần/tuần. Biện pháp này có thể làm giảm triệu chứng của bệnh sau vài tháng. Tuy hiệu quả xuất hiện chậm nhưng đây là biện pháp điều trị cơ bản cho tất cả các bệnh nhân bị bệnh động mạch ngoại biên. Tập luyện trong trường hợp có triệu chứng đau cách hồi như đi bộ có thể gây đau. Vì vậy, chương trình luyện tập bao gồm xen kẽ những đoạn đường đi bộ với nghỉ ngơi, sau đó, quãng đường này được kéo dài dần và thời gian nghỉ giữa những lần đó cũng dần được rút ngắn nhằm tăng khoảng thời gian bạn có thể đi được trước khi xuất hiện đau chân. Việc luyện tập và theo dõi tại các trung tâm phục hồi chức năng là rất có ích cho bạn. Nếu bạn không có điều kiện đến các trung tâm phục hồi chức năng, hãy đề nghị bác sĩ giúp bạn lập một kế hoạch tập luyện phù hợp.
Chế độ ăn
Nhiều bệnh nhân bị bệnh động mạch ngoại biên có mỡ máu tăng cao. Bên cạnh việc dùng thuốc, một chế độ ăn ít cholesterol và mỡ bão hoà là rất cần thiết để giúp làm giảm mỡ máu, hạn chế tình trạng xơ vữa mạch.
Bỏ thuốc lá
Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ bị bệnh động mạch ngoại biên, nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Do đó, hãy bỏ thuốc lá nếu bạn đang hút. Nó sẽ giúp làm chậm tiến triển bệnh động mạch ngoại biên và các bệnh liên quan đến tim mạch khác.
Điều trị bằng thuốc
Bác sĩ có thể được kê cho bạn thuốc hạ huyết áp và/hoặc thuốc điều chỉnh mỡ máu. Việc dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ là rất quan trọng. Dùng thuốc không đúng chỉ định của bác sĩ sẽ làm tăng nguy cơ cho bệnh động mạch ngoại biên cũng như nhồi máu cơ tim và đột tử. Các thuốc nhóm cilostazol, pentoxifylline sẽ giúp bạn cải thiện được quãng đường đi bộ nếu bạn bị đau cách hồi. Những thuốc này làm giảm độ nhớt của máu và giảm hình thành cục máu đông, cải thiện tốc độ dòng chảy. Các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (Aspirin, clopidogrel) cũng giúp phòng ngừa huyết khối gây nghẽn mạch.
Can thiệp điều trị qua đường ống thông
Với một số bệnh nhân, bên cạnh các phương pháp điều trị trên, họ cần được tiến hành can thiệp hay phẫu thuật.
Phương pháp can thiệp bao gồm nong hay đặt stent động mạch, tương tự như đặt stent động mạch vành. Đây là phương pháp không phẫu thuật. Bác sĩ làm thủ thuật chỉ cần đưa một ống thông nhỏ qua da vào động mạch để lấy cục máu đông, sau đó dùng một quả bóng nhỏ bơm lên trong lòng mạch để nong rộng chỗ tắc. Một stent (giá đỡ kim loại đặc biệt) được đặt vào vị trí tắc nghẽn hạn chế tái hẹp.
Người bệnh cần nhớ đây không phải là biện pháp có thể giải quyết toàn bộ tình trạng bệnh của mình, mà chỉ giúp cải thiện mức độ trầm trọng của bệnh. Sau can thiệp đặt stent, người bệnh cần phải kiên trì dùng thuốc đều đặn theo đúng chỉ định và thực hiện các biện pháp luyện tập, điều chỉnh chế độ ăn như chỉ dẫn của bác sĩ.
Phẫu thuật
Phẫu thuật có thể cần thiết trong một số trường hợp như: tắc hoàn toàn một đoạn mạch máu dài và bạn có triệu chứng thiếu máu chi nặng. Trong phẫu thuật, bác sĩ sẽ lấy một đoạn mạch (thường là tĩnh mạch) từ một phần khác của cơ thể để bắc cầu nối qua chỗ tắc tới các mạch máu nuôi phần chi phía dưới chỗ tắc. Tương tự như sau can thiệp đặt stent động mạch, người bệnh sau đó vẫn cần tuân thủ tốt chế độ dùng thuốc và thay đổi lối sống.
Việc lựa chọn biện pháp điều trị nào, dùng thuốc, đặt stent động mạch hay phẫu thuật sẽ căn cứ vào mức độ và tính chất tổn thương của bạn. Bác sĩ sẽ hội chẩn và quyết định xem phương pháp nào là thích hợp nhất với bạn.
Tóm lại, nếu bạn được chẩn đoán là bị bệnh động mạch ngoại biên, hãy tự trang bị cho mình bằng những hiểu biết về các yếu tố nguy cơ của bệnh và làm thế nào để giảm bớt các yếu tố nguy cơ đó, nguyên tắc điều trị để giảm bớt triệu chứng và tiếp tục duy trì một cuộc sống khỏe mạnh.
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi BS Trịnh Ngọc Bình – Phó ban AloBacsi Cộng đồng
- Từ khóa:
Lần đầu triển khai kỹ thuật khoan cắt mảng xơ vữa bằng laser tại Việt Nam
Lần đầu các bác sĩ tại Việt Nam triển khai kỹ thuật khoan cắt mảng xơ vữa bằng laser trong điều trị hẹp tắc động mạch chi dưới, mở ra hướng đi mới cho bệnh nhân cao tuổi mắc nhiều bệnh nền.
Multimedia
Theo dõi trên:Video
Mắc hội chứng chuyển hóa, nguy cơ đột quỵ và đột tử tăng cao
Mắc hội chứng chuyển hóa có thể khiến nguy cơ mắc các biến cố tim mạch nguy hiểm như đột quỵ hay đột tử tăng lên đáng kể. Các chuyên gia cảnh báo tình trạng này tuy tiến triển âm thầm nhưng lại là nền tảng thúc đẩy xơ vữa động mạch, làm gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ nếu không được phát hiện và kiểm soát sớm.
Sống sót sau đột quỵ, làm gì để không bị lần 2?
Giới trẻ và đột quỵ: Khi lối sống hiện đại trở thành sát thủ âm thầm
Giải mã mối quan hệ nguy hiểm giữa đái tháo đường và đột quỵ
Phòng Tránh Đột Quỵ – Bắt Đầu Từ 5 Bài Tập Đơn Giản
Ngăn đột quỵ ngay từ phút đầu – Những điều nên biết
7 tình huống khiến đường huyết tăng vọt có thể bạn chưa biết















">
">
"> 
