Thiếu bằng chứng để nhận ra tiềm năng của các can thiệp thần kinh bằng robot
Bất chấp những thành công về mặt lâm sàng được quan sát cho đến nay, việc thiếu bằng chứng an toàn và hiệu quả cấp cao, cùng với những thách thức và hạn chế hiện tại khác, cần phải vượt qua để nhận ra tiềm năng của robot trong phẫu thuật can thiệp thần kinh.
Đây là quan điểm kết luận được đưa ra trong một bài tổng quan tài liệu có hệ thống được công bố trên Tạp chí Phẫu thuật Thần kinh (JNIS) của Thomas Booth, William Crinnion (Trường Kỹ thuật Y sinh và Khoa học Hình ảnh, King’s College London, London, Vương quốc Anh) và các đồng nghiệp.
“Thật hợp lý khi các quy trình can thiệp thần kinh được thực hiện bằng robot cuối cùng sẽ mang lại lợi ích cho bệnh nhân và giảm các nguy cơ nghề nghiệp cho nhân viên; tuy nhiên, không có bằng chứng về hiệu quả và độ an toàn cao để hỗ trợ khẳng định này.” – Booth, Crinnion và cộng sự viết trên JNIS.
Thiếu bằng chứng để nhận ra tiềm năng của các can thiệp thần kinh bằng robot (Ảnh minh hoạ)
Nếu bằng chứng về hiệu quả và độ an toàn mạnh mẽ xuất hiện và nếu được chứng minh là hiệu quả về chi phí, thì một công dụng tiềm năng sẽ dành cho một nền tảng hoạt động đầy đủ để thực hiện can thiệp điều khiển từ xa – nếu áp dụng cho phẫu thuật cắt huyết khối cơ học trong đột quỵ, sẽ đẩy nhanh quá trình điều trị bệnh nhân đủ điều kiện ở các địa điểm cách nhà điều hành một khoảng cách đáng kể.
Các nền tảng tiềm năng hiện đang yêu cầu sự cải tiến đáng kể. Đầu tiên, để đảm bảo rằng người vận hành trong phòng điều hành yêu cầu đầu vào can thiệp tối thiểu. Thứ hai, cho phép sử dụng chính xác nhiều loại máy và thiết bị vi mạch thần kinh. Thứ ba, phát triển các hệ thống phản hồi xúc giác phù hợp trực tiếp với các chuyển động của người vận hành bằng tay; điều này có khả năng giảm thời gian đào tạo, tận dụng các kỹ năng sẵn có của người vận hành và giảm thiểu rủi ro do ống thông và hư hỏng dây thông qua việc đánh giá cao các chuyển động của ống thông và dây tinh vi.
Những kết luận này được Booth, Crinnion và các đồng nghiệp rút ra sau khi xem xét hệ thống các tài liệu hiện có, bao gồm các bài báo và lấy nguồn từ cơ sở dữ liệu Medline, PubMed, Embase và Cochrane. Sau khi sàng lọc tổng cộng 145 bài báo, các tác giả lưu ý rằng 8 bài báo – điều trị cho 81 bệnh nhân – đáp ứng các tiêu chí về tính đủ điều kiện của họ và được đưa vào để phân tích định tính và định lượng.
Họ nói rằng 7 trong số các nghiên cứu này đã báo cáo việc sử dụng hệ thống robot để chẩn đoán động mạch não hoặc đặt stent động mạch cảnh và một báo cáo trường hợp mô tả việc sử dụng hệ thống robot thực hiện can thiệp nội sọ. Chuyển đổi thủ công được yêu cầu trong ba trường hợp trong các bài viết này, cho tỷ lệ thành công về mặt kỹ thuật là 96% (78/81). Cũng không có dữ liệu an toàn hoặc biến chứng liên quan đến bệnh tật hoặc tử vong được báo cáo trong bất kỳ nghiên cứu nào, dẫn đến tỷ lệ thành công trên lâm sàng là 100%.
Chỉ có một nghiên cứu thực hiện so sánh giữa các thủ tục được hỗ trợ bởi robot và các thủ tục hoàn toàn thủ công và phát hiện ra sự gia tăng đáng kể về thời gian thực hiện quy trình liên quan đến đặt stent động mạch cảnh do robot. Tuy nhiên, Booth, Crinnion và các đồng nghiệp cũng làm dịu những phát hiện phần lớn tích cực này bằng cách lưu ý rằng tất cả các bằng chứng được xác định ở đây thuộc loại bằng chứng cấp bốn, nói thêm rằng, do đó, hiện tại không có bằng chứng cấp cao nào chứng minh rằng việc thực hiện bằng robot can thiệp thần kinh ít nhất là không thua kém các thủ tục thủ công.
Tuy nhiên, bất chấp mức độ thấp của bằng chứng hiện có, chúng vẫn tiếp tục, vẫn có giá trị trong việc thảo luận thêm về các nghiên cứu riêng lẻ này – đặc biệt là vì “chúng đại diện cho tình trạng hiện tại của nghệ thuật và tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo”. T
rong báo cáo của họ, Booth, Crinnion và các đồng nghiệp cũng nêu rõ những ưu và nhược điểm khác nhau liên quan đến hệ thống robot Magellan (Hansen Medical/Auris Health), hệ thống CorPath GRX (Corindus/Siemens Healthineers) và hai hệ thống robot thử nghiệm khác, tất cả trong đó nổi bật trong tám bài báo.
Thi Nguyên, theo neuronewsinternational.com
7 thức uống giúp giải nhiệt, ngủ ngon hơn trong mùa nắng nóng
Nắng nóng kéo dài không chỉ khiến cơ thể mệt mỏi, mất nước mà còn ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng giấc ngủ. Nhiều người than phiền tình trạng khó ngủ, ngủ chập chờn, thức giấc giữa đêm do cảm giác oi bức, nóng trong người hoặc đổ mồ hôi nhiều.
Theo các chuyên gia dinh dưỡng, lựa chọn đúng thức uống trong mùa hè có thể hỗ trợ điều hòa thân nhiệt, bù nước và giúp cơ thể thư giãn tốt hơn trước khi ngủ. Tuy nhiên, không phải loại nước nào “mát” cũng phù hợp để dùng vào buổi tối.
Multimedia
Theo dõi trên:Video
Kết quả chụp mạch máu “có hiệu lực” trong bao lâu?
Kết quả chụp mạch máu là căn cứ quan trọng giúp bác sĩ chẩn đoán và theo dõi bệnh lý tim mạch, đột quỵ. Tuy nhiên, nhiều người vẫn băn khoăn liệu những hình ảnh này có thể sử dụng trong bao lâu trước khi cần chụp lại. Thực tế, “giá trị” của kết quả không phải lúc nào cũng cố định, mà phụ thuộc vào diễn tiến bệnh và tình trạng sức khỏe của từng người.
Sống sót sau đột quỵ, làm gì để không bị lần 2?
Giới trẻ và đột quỵ: Khi lối sống hiện đại trở thành sát thủ âm thầm
Giải mã mối quan hệ nguy hiểm giữa đái tháo đường và đột quỵ
Phòng Tránh Đột Quỵ – Bắt Đầu Từ 5 Bài Tập Đơn Giản
Ngăn đột quỵ ngay từ phút đầu – Những điều nên biết
7 tình huống khiến đường huyết tăng vọt có thể bạn chưa biết














">
">
"> 
