Tất tần tật về bệnh rối loạn lipid máu
Rối loạn lipid máu là bệnh lý về sự gia tăng bất thường của những loại chất béo có ảnh hưởng xấu cho hoạt động của cơ thể, nhất là hệ thống tim mạch (Cholesterol, Triglyceride, LDL) và sự giảm lượng chất béo có vai trò bảo vệ cơ thể, chống bệnh tật (HDL).
Mục lục
1. Các thành phần mỡ trong máu bình thường
Mỡ máu (lipid máu) là một thành phần quan trọng bình thường có trong máu, nó tham gia vào quá trình chuyển hóa và là nguồn cung cấp năng lượng cho các hoạt động hằng ngày của cơ thể.
Các thành phần của mỡ máu bình thường gồm: cholesterol, Triglycerid, HDL-cholesterol (cholesterol trọng lượng phân tử cao) và LDL-cholesterol (cholesterol trọng lượng phân tử thấp).
– Cholesterol là một thành phần cần thiết của mỡ máu, nó có chức năng tạo ra hormone và tiêu hóa thức ăn béo. Mức bình thường trong máu: dưới 200 mg trong 100 mL máu (200 mg%). – HDL – cholesterol (còn gọi là cholesterol tốt) chiếm khoảng ¼ – 1/3 tổng nồng độ cholesterol trong máu, nó có tác dụng vận chuyển chất béo từ máu về gan cũng như hạn chế hình thành mảng xơ vữa động mạch và các biến chứng tim mạch khác. Mức bình thường trong máu: trên 60 mg trong 100 mL máu (60 mg%). – LDL – cholesterol (còn gọi là cholesterol xấu) do khi nồng độ chất này trong máu tăng cao dễ gây biến chứng nguy hiểm cho cơ thể như tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ. Mức bình thường trong máu: dưới 100 mg trong 100 ml máu (100 mg%). – Triglyceride là dạng chất béo trong máu trung tính, thường tăng cao ở những người tăng cholesterol toàn phần. Song sự tăng triglyceride trong máu cũng có liên quan đến một vài biến chứng tim mạch. Mức bình thường trong máu: dưới 150 mg trong 100 mL máu (150 mg%).
2. Rối loạn lipid máu là gì?
Rối loạn lipid máu
Rối loạn lipid máu là tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu hay tình trạng nồng độ các chất mỡ trong máu tăng cao, khi đó có một hoặc nhiều thông số lipid bị rối loạn như:
– Tăng cholesterol: trên 200 mg%.
+ Tăng triglyceride: trên 150 mg%.
+ Tăng LDL-c: trên 100 mg%.
+ Giảm HDL-c: dưới 60 mg%.
3. Đối tượng dễ mặc rối loạn lipid máu
Các đối tượng sau đây nguy cơ cao bị rối loạn lipid máu:
– Thừa cân, béo phì – Hút thuốc lá và uống nhiều bia rượu – Lối sống tĩnh lại – Thói quen ăn thực phẩm giàu chất béo – Người có tiền căn mắc bệnh lý: đái tháo đường, hội chứng Cushing, hội chứng thận hư, phụ nữ dùng estrogen thời gian dài – Bẩm sinh và di truyền rối loạn chuyển hóa chất béo trong cơ thể Xem thêm: Biến chứng của rối loạn lipid máu có thể dẫn đến đột quỵ
4. Dấu hiệu nào cho biết người bị rối loạn lipid máu
Người bị rối loạn lipid máu không có dấu hiệu đặc trưng bởi người bị mỡ máu cao không chỉ ở người béo phì mà cả ở người gầy. Vì thế, phần lớn việc hiện bệnh chủ yếu thông qua khám sức khỏe, xét nghiệm thường quy hoặc đã nhập viện vì một bệnh l1y khác xét nghiệm rồi phát hiện.
Chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm các thông số lipid khi có một hoặc nhiều rối loạn như sau:
– Cholesterol máu > 5.2 mmol/ L (200 mg%) – Triglyceride > 1.7 mmol/ L (150 mg%) – LDL-cholesterol > 2.5 mmol/ L (100 mg%) – HDL-cholesterol < 1.03 mmol/ L (60 mg%)
5. Biến chứng của rối loạn lipid máu

Sự tích mảng bám khiến bên trong động mạch bị thu hẹp theo thời gian. Quá trình này được gọi là xơ vữa động mạch
“Có đến 90% trường hợp nhồi máu cơ tim là do biến chứng của mãng xơ vữa”
Khi LDL cholesterol tăng cao, chúng có thể tích tụ trên thành mạch máu, sự tích tụ này được gọi là “mảng bám”, dẫn đến thu hẹp lòng mạch gây cản trở lưu lượng máu, gia tăng kết tập tiểu cầu làm hình thành cục máu đông tại chỗ hoặc các mảng bám này có thể bị bong tróc và trôi đi gây tắc đoạn xa của các mạch máu. Tùy theo mức độ hẹp lòng mạch và cơ quan bị giảm máu nuôi mà triệu chứng gây ra nặng hay nhẹ. Khi dòng máu đến tim và não bị suy giảm hoặc tắc nghẽn sẽ gây ra đột quỵ và nhồi máu cơ tim cấp.
Nốt tích tụ mỡ dưới da ở mi mắt
Rối loạn lipid máu tuy không phải là bệnh cấp tính, nhưng biến chứng và hệ lụy của chúng là nguyên nhân dẫn đến các bệnh lý:
– Xơ vữa động mạch: tổn thương động mạch vành gây nhồi máu cơ tim, tổn thương mạch máu não gây đột quỵ não, tổn thương động mạch hai chi dưới gây viêm tắc thiếu máu hoại tử bàn chân. – Ngoại biên của tăng lipid máu: sự lắng đọng lipid khu trú ở da, biểu hiện dưới dạng sẩn, mảng hoặc nốt tích tụ mỡ dưới da ở mi mắt, gân khuỷu tay, đầu gối, gót chân, màng xương gọi là u vàng. – Nội tạng của tăng lipid máu: nhiễm lipid võng mạc mắt, các ban vàng ở mi mắt. Tại hệ tiêu hóa, khi có quá nhiều cholesterol trong dịch mật, phần dư thừa sẽ thúc đẩy hình thành tinh thể, lâu dài sẽ tạo nên sỏi cứng trong túi mật, đường mật trong gan. Hậu quả sẽ gây tắc nghẽn làm người bệnh đau quặn từng cơn hoặc sốt cao do nhiễm trùng – nhiễm độc từ đường mật. Tình trạng triglyceride trong máu tăng cao có thể gây gan nhiễm mỡ hoặc làm cho người bệnh thường bị đau bụng dữ dội theo từng cơn, buồn nôn và ói nhiều, đôi khi kèm theo những cơn sốt cao, là biểu hiện của viêm tụy cấp. Xem thêm: Tăng lipid máu có thể dẫn đến nguy cơ đau tim và đột quỵ
6. Điều chỉnh rối loạn lipid máu như thế nào?
Gan bị nhiễm mỡ
Sỏi cholesterol túi mật
Để dự phòng và điều trị tăng mỡ máu thì chế độ ăn uống và sinh hoạt đóng vai trò quan trọng.
6.1. Chế độ ăn hợp lý
Dinh dưỡng cho người rối loạn mỡ máu
Ăn nhiều rau quả, khoảng 500 g/ngày để cung cấp đủ vitamin, khoáng chất và chất xơ cho cơ thể. Người bệnh nên sử dụng các loại rau củ quả giàu chất chống oxy hóa để giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành như thực phẩm giàu Vitamin E (có nhiều trong các loại hạt, dầu thực vật), beta-caroten (có nhiều trong các loại quả có múi, ớt chuông) và selen (có nhiều trong lúa mì, ngũ cốc, trứng) để giảm cholesterol máu, ngăn ngừa xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành, chế độ ăn cho người bệnh cần phải tuân thủ những nguyên tắc sau:
– Dùng đạm ít béo như thịt bò nạc, thịt gà, thịt heo thăn… – Ăn thực phẩm giàu acid béo omega-3: thường xuyên dùng cá hồi, cá thu, quả óc chó và hạt hạnh nhân – Giảm ăn các chất béo – Hạn chế tối đa phủ tạng động vật
6.2. Ngừng hút thuốc
Không hút thuốc lá sẽ giúp cải thiện chỉ số HDL-c và giảm quá trình xơ vữa động mạch.
6.3. Cân nặng phù hợp
Cần duy trì thói quen uống nước lọc thay cho đồ uống có đường, có gas, giúp duy trì cân nặng phù hợp.
6.4. Thường xuyên tập thể dục
Ngoài chế độ ăn hợp lý, người bệnh cần kết hợp với tập luyện đều đặn, nên dành 30 phút tập thể dục mỗi ngày, 5 buổi mỗi tuần như đi bộ, chạy xe đạp hoặc chơi một môn thể thao yêu thích.
6.5. Hạn chế sử dụng bia rượu
Khi uống rượu bia, gan sẽ đốt cháy rượu bia chứ không sử dụng chất béo. Thông thường, khi uống rượu bia thường sẽ dùng kèm các loại thức ăn không lành mạnh (đồ ăn nhanh, thực phẩm chiên, xào, nướng) dẫn đến dư thừa năng lượng. Năng lượng dư thừa sẽ được tích lũy dưới dạng mỡ. Uống rượu bia nhiều gây tăng kích thước vòng bụng và dễ dẫn đến nguy cơ mắc bệnh lý đột quỵ.
Trọng Dy (ghi) – benhdotquy.net
Nguồn: Cẩm Nang sức khỏe Phòng chống Đột quỵ – Chủ biên: TS.BS Trần Chí Cường
- Từ khóa:
- Đột quỵ
- rối loạn lipid máu
Đừng chủ quan với say nắng trong những ngày oi bức
Mùa hè là thời điểm nhiều hoạt động ngoài trời diễn ra sôi động, nhưng cũng là lúc nguy cơ say nắng, say nóng tăng cao. Đây không chỉ là cảm giác mệt mỏi thoáng qua mà là tình trạng cấp tính do cơ thể bị quá tải nhiệt, có thể dẫn đến biến chứng nặng nếu không xử trí kịp thời.
Multimedia
Theo dõi trên:Video
Chóng mặt kéo dài, coi chừng đột quỵ: Bác sĩ cảnh báo dấu hiệu dễ nhầm lẫn
Chóng mặt là triệu chứng rất phổ biến, nhưng không phải lúc nào cũng vô hại. Trong nhiều trường hợp, đây có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của đột quỵ, đặc biệt khi kéo dài, dữ dội hoặc kèm theo các biểu hiện bất thường. Các bác sĩ khuyến cáo người dân cần nhận biết đúng để tránh nhầm lẫn nguy hiểm và không bỏ lỡ “thời gian vàng” điều trị.
Sống sót sau đột quỵ, làm gì để không bị lần 2?
Giới trẻ và đột quỵ: Khi lối sống hiện đại trở thành sát thủ âm thầm
Giải mã mối quan hệ nguy hiểm giữa đái tháo đường và đột quỵ
Phòng Tránh Đột Quỵ – Bắt Đầu Từ 5 Bài Tập Đơn Giản
Ngăn đột quỵ ngay từ phút đầu – Những điều nên biết
7 tình huống khiến đường huyết tăng vọt có thể bạn chưa biết















">
">
"> 
