Phân biệt đột quỵ nhồi máu não và đột quỵ xuất huyết não như thế nào?

Tôi nghe nói đột quỵ có 2 dạng là nhồi máu não và xuất huyết não. Xin hỏi triệu chứng 2 tình trạng này có khác nhau và tôi nên nhận diện như thế nào? Xin cảm ơn. (Đỗ Văn Tân)

10-12-2021 14:47
Theo dõi trên |

Bạn thân mến,

Theo BS.CK2 Trương Quang Anh Vũ, Trưởng phòng Kế hoạch – Tổng hợp, Bệnh viện Thống Nhất, đột quỵ có 2 dạng là nhồi máu não và xuất huyết não. Trong đó, nhồi mãu não phổ biến hơn, với khoảng 80-85% các trường hợp đột quỵ. Xuất huyết não khoảng 15-20% còn lại. Mặc dù đột quỵ xuất huyết ít gặp hơn đột quỵ thiếu máu não nhưng lại có xu hướng tử vong nhiều hơn.

Trong khi nhồi máu não là tình trạng một phần nhu mô não bị tổn thương do mạch máu nuôi bị thuyên tắc gây ra bởi mảng xơ vữa bong ra hoặc do huyết khối. Nguyên nhân thường gặp của nhồi máu não là:

– Xơ vữa mạch máu lớn chiếm 50%, trong đó các mạch máu lớn ngoài sọ chiếm 45%, mạch máu lớn trong sọ chiếm 5%.

– Nguyên nhân từ tim gây cục huyết khối như bệnh hở van tim, rung nhĩ, rối loạn nhịp tim, suy tim… tạo cục máu đông đi đến não chiếm 20%.

– Tắc các mạch máu nhỏ trong não, thường gặp ở bệnh nhân tăng huyết áp, đái tháo đường chiếm 25%.

– Bệnh động mạch không xơ vữa chiếm tỷ lệ < 5%.

– Bệnh về máu như bệnh lý đông máu, bệnh tế bào máu, bất thường bẩm sinh của mạch máu… chiếm <5%.

Xuất huyết não là tình trạng một phần nhu mô não bị tổn thương do mạch máu nuôi bị vỡ, xuất huyết, tạo khối máu tụ chèn ép. Trong đó, xuất huyết nhu mô hay trong não thường là:

– Hậu quả từ tăng huyết áp gây tăng áp lực quá mức lên những thành mạch đã bị tổn thương do xơ vữa động mạch.

– Những bệnh nhân dùng thuốc kháng đông hay thuốc làm mỏng mạch máu có tăng nguy cơ một ít ở nhóm đột quỵ xuất huyết.

Đối với xuất huyết khoang dưới nhện, đây là dạng đột quỵ xảy ra khi mạch máu trên bề mặt của não vỡ, dẫn đến máu chảy vào khoang dưới nhện và vùng nền sọ. Thường do vỡ phình mạch gây ra yếu thành động mạch hoặc do vỡ dị dạng động tĩnh mạch (AVM) là một thông nối bất thường giữa động mạch và tĩnh mạch.

Biểu hiện lâm sàng của cả 2 dạng đột quỵ nhồi máu não hay đột quỵ xuất huyết não giống nhau. Tùy thuộc vào phần nhu mô não bị tổn thương nhỏ hay lớn, khối máu tụ nhỏ hay lớn, sẽ biểu hiện triệu chứng từ nhẹ đến nặng: yếu nửa người, nói đớ, nuốt khó, méo mặt, đau đầu dữ dội, xây xẩm, chóng mặt…, nặng hơn có thể hôn mê, suy hô hấp tuần hoàn, tử vong.

Do đó, đối với người thân và gia đình, việc phân biệt nhồi máu não hay xuất huyết não khi xảy ra sự cố là không thể và không phải điều cần làm. Khi đó, điều cần làm là cần đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất có điều kiện điều trị, can thiệp đột quỵ (có ít nhất máy CT).

Nếu có biểu hiện hôn mê, suy hô hấp – tuần hoàn (ngưng tim, ngưng thở), thì người đột quỵ do nhồi máu não hay xuất huyết não đều cần được hồi sức tim phổi ngay: ép tim ngoài lòng ngực (ấn tim), hô hấp nhân tạo (thổi ngạt) trên đường đến bệnh viện hoặc trong khi chờ xe cấp cứu tới. Đồng thời, cần nhớ thời gian khởi phát các triệu chứng để báo với bác sĩ.

Khi vào viện, bác sĩ sẽ dùng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh để phân biệt 2 dạng đột quỵ (CT scan sọ não hoặc MRI sọ não). Đối với nhồi máu não, bệnh nhân sẽ được tái thông mạch máu não bằng thuốc tiêu huyết khối hoặc can thiệp mạnh máu não (hút thuyết khối, đặt stent). Đối với xuất huyết não, bệnh nhân sẽ được can thiệp mạch máu não hoặc phẫu thuật sọ não lấy khối xuất huyết, cầm máu.

Trân trọng!

  • Từ khóa:

Đặt câu hỏi tư vấn

Nếu các bạn có bất kỳ thắc mắc gì về bệnh đột quỵ, hãy đặt câu hỏi cho chúng tôi dưới đây:
Chóng mặt trong y khoa có những dạng nào thường gặp?

Chóng mặt trong y khoa có những dạng nào thường gặp?

Trong y khoa, chóng mặt được chia thành nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng gợi ý một nguyên nhân và hướng xử trí riêng. Việc phân biệt đúng loại chóng mặt ngay từ đầu giúp tránh bỏ sót bệnh lý nguy hiểm và điều trị hiệu quả hơn.

Video

Hẹp động mạch vành: Nguy hiểm thế nào và do đâu?

Hẹp động mạch vành: Nguy hiểm thế nào và do đâu?

Hẹp động mạch vành là tình trạng lòng mạch nuôi tim bị thu hẹp, làm giảm lượng máu và oxy đến cơ tim. Nếu không được phát hiện, kiểm soát và điều trị kịp thời, bệnh có thể tiến triển âm thầm nhưng dẫn đến nhiều biến cố nguy hiểm như nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp tim, thậm chí đột tử. Vậy nguyên nhân nào gây hẹp động mạch vành và những yếu tố nguy cơ nào cần đặc biệt cảnh giác?

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ