Thuyên tắc phổi nguy hiểm ra sao và điều trị thế nào?

Thuyên tắc phổi là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 sau nhồi máu cơ tim. Bệnh thường gặp ở người cao tuổi, ung thư,… với tỷ lệ tử vong khoảng 30%. Việc điều trị không chính xác có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như chảy máu, xuất huyết trong não. PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định – Phó Giám đốc Trung tâm Tim mạch – Trưởng Khoa Phẫu thuật Tim mạch, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM sẽ giải đáp kỹ hơn cho quý bạn đọc.

07-09-2022 09:43
Theo dõi trên |

1. Thuyên tắc phổi là gì?

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Tim có nhiệm vụ bơm máu để nuôi cơ thể qua hệ thống động mạch, sau đó đến hệ thống mao mạch và trở về tim bằng hệ thống tĩnh mạch. Khi máu ở hệ thống tĩnh mạch, nó sẽ chảy chậm hơn hệ thống động mạch. Máu chảy chậm có thể do quá cô đặc, các lớp phía trong của thành mạch máu bị tổn thương, hiện tượng tăng đông hoặc một số vấn đề khác gây hình thành cục máu đông trong tĩnh mạch. Tĩnh mạch thường ở vùng chân, vùng chậu, hay trong bụng. Mặc dù cục máu đông được hình thành ở vị trí tĩnh mạch xa, nhưng sẽ đi theo dòng máu và về tim. Đó là lý do vì sao chúng ta có chữ thuyên tắc (thuyên là từ nơi khác di chuyển đến và tắc là tắc mạch máu). Khi máu từ tĩnh mạch ngoại vi đi về tim bên phải sẽ bóp máu lên phổi, nên còn gọi là thuyên tắc động mạch phổi. Máu trao đổi CO2 và O2 tại phổi. Khi tim bóp máu, nhưng trong tĩnh mạch có huyết khối, thì những cục huyết khối đó sẽ kẹt ở động mạch phổi. Chúng ta cứ tưởng tượng động mạch phổi như một cái cây, khi tim bên phải bóp cục huyết khối to lên, nó sẽ gây tắc ở động mạch chính. Nếu huyết khối nhỏ, nó có thể đi qua phổi bên phải hay bên trái hoặc vào nhánh động mạch nhỏ gây ra tình trạng thuyên tắc phổi. Đây là tình trạng gây tử vong rất nhiều, dù tỷ lệ mắc phải không cao. Nó dao động từ 1/1000 đến 1/2000 trong một năm. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong có thể lên đến 20-30% nếu không điều trị kịp thời.

2. Thuyên tắc phổi ở người lớn tuổi nguy hiểm ra sao?

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Người cao tuổi sẽ có nhiều bệnh nền như cao huyết áp, đái tháo đường, tắc nghẽn phổi mãn tính hoặc bệnh nhân bất động nằm lâu một chỗ, nguy cơ thuyên tắc phổi tăng rất nhiều. Bên cạnh đó, tỷ lệ tử vong do thuyên tắc phổi ở người cao tuổi sẽ cao hơn so với đối tượng trẻ tuổi. >>> Xem thêm: Tăng áp động mạch phổi là bệnh gì và nguy hiểm ra sao?

3. Dấu hiệu của thuyên tắc phổi có dễ nhầm lẫn?

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Bệnh thuyên tắc phổi là kẻ sát nhân giấu mặt vì nhiều người không nghĩ đến căn bệnh này. Khi vào phòng cấp cứu, nếu không nhanh nhạy với các triệu chứng trên chúng ta có thể bỏ qua. Các triệu chứng của bệnh rất giống với dấu hiệu của các bệnh lý khác. Ví dụ như cấp cứu đường hô hấp, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính hay nhồi máu cơ tim, bóc tách động mạch chủ, biến đổi khác của hệ tuần hoàn và hô hấp. Thông thường, nếu không nghĩ đến và tìm nguyên nhân, nhiều người sẽ không được chẩn đoán sớm và có thể dẫn đến không điều trị đúng. Bệnh nhân sẽ không có kết quả điều trị tốt.

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định - Phó Giám đốc Trung tâm Tim mạch - Trưởng Khoa Phẫu thuật Tim mạch, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định – Phó Giám đốc Trung tâm Tim mạch – Trưởng Khoa Phẫu thuật Tim mạch, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM

4. Nhận diện thuyên tắc phổi như thế nào?

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Nhận diện thuyên tắc phổi thường khó do chúng ta không nghĩ đến. Nhưng nếu biết được bệnh, chúng ta sẽ có quy trình chẩn đoán chính xác. Cụ thể, những đối tượng dễ bị thuyên tắc phổi là người trên 60 tuổi có bệnh nền như tắc nghẽn phổi mãn tính, tiểu đường, ung thư, nằm ở một chỗ lâu dài hoặc trải qua cuộc phẫu thuật lớn; bệnh nhân sử dụng thuốc estrogen như phụ nữ hoặc các phụ nữ mang thai. Ở các bệnh nhân trên, triệu chứng sẽ bao gồm đau ngực khi ho, khạc ra máu, ho ra máu, ngột thở hoặc choáng váng do oxy lên phổi không có. Trong một số trường hợp nặng, người bệnh có thể bị đánh trống ngực, tụt huyết áp, ngưng tim. Ở những bệnh nhân bị mạch nhanh, huyết áp tuột, đau ngực, ho ra máu, chúng ta không thể bỏ qua thuyên tắc phổi, cần làm thêm xét nghiệm máu, đặc biệt là chụp CT phổi để loại trừ các bệnh như nhồi máu cơ tim, bóc tách động mạch chủ hoặc viêm phổi. Nếu có thuyên tắc phổi, bác sĩ có thể chẩn đoán sớm để điều trị.

5. Cách phân biệt triệu chứng thuyên tắc phổi với bệnh khác?

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Một số trường hợp khiến bệnh nhân phải nằm một chỗ như ung thư, tai biến mạch máu não hoặc trải qua cuộc mổ do tiểu đường, nhồi máu cơ tim, thì triệu chứng gợi ý như tim đập nhanh, tim hồi hộp hoặc thay đổi tri giác, nói năng không rõ ràng, giao tiếp không còn bình thường, thậm chí ngất xỉu. Đối với những trường hợp như vậy, đó có thể là triệu chứng cảnh báo thuyên tắc phổi cần đưa bệnh nhân vào bệnh viện cấp cứu và được chẩn đoán chính xác hơn.

6. Điều trị bệnh thuyên tắc phổi theo từng mức độ

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Bệnh nhân cao tuổi có nhiều bệnh nền, thường sẽ gặp nguy hiểm khi vào bệnh viện cấp cứu và được vào nhóm thuyên tắc phổi. Nếu cục máu đông lớn và nằm ngay ở động mạch phổi chính thì tình trạng bệnh nhân sẽ nặng, có thể dẫn đến suy tim phải và tụt huyết áp. Nếu cục máu đông gây tắc hai động mạch phổi chính, đây cũng là tình huống cấp cứu tương tự. Trong phòng cấp cứu, các bác sĩ sẽ phân loại cấp cứu nguy cơ. Nhóm nguy hiểm là thuyên tắc phổi lớn và nó gọi là massive tức là rầm rộ. Trong trường hợp này, chúng ta phải can thiệp cả nội khoa lẫn ngoại khoa. Đối với nhóm trung bình, bệnh nhân bị suy tim bên phải, vì tim bên phải bóp máu lên không được nên tim bị suy nhưng người bệnh chưa tụt huyết áp. Đối với nhóm trung bình, chúng ta có chỉ định dùng thuốc kháng đông. Đối với nhóm nhẹ hơn, sẽ điều trị nội khoa.

7. Nguy cơ thuyên tắc trong giai đoạn hậu COVID-19

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: COVID-19 là bệnh siêu vi tấn công vào đường hô hấp, trong một số trường hợp tấn công vào tim. Sau này, nhiều người phát hiện bệnh này làm rối loạn đông máu rất nhiều do đáp ứng rối loạn viêm của cơ thể, thay đổi đặc điểm của các tế bào nội mạc, tế bào dưới vùng chậu và nguy cơ thuyên tắc do COVID sẽ tăng lên rất nhiều. Người bệnh không chỉ bị thuyên tắc phổi mà còn mạch máu não, nhồi máu cơ tim, thuyên tắc các động mạch ngoại vi lẫn tĩnh mạch. Vì vậy, nguy cơ thuyên tắc phổi sẽ tăng hơn so với lúc trước. Do đó, người có nhiều yếu tố nguy cơ nằm lâu, bị ung thư hay vừa mổ, hút thuốc sẽ dễ bị thuyên tắc phổi. Nếu bị COVID-19, họ sẽ bị nặng hơn. Những bệnh nhân như vậy sẽ cảm thấy khó thở hơn, lú lẫn, thay đổi tri giác, đau ngực, cần đưa bệnh nhân vào bệnh viện sớm, vì kẻ sát nhân giấu mặt của chúng ta là nguyên nhân gây ra các triệu chứng đó.

8. Lưu ý khi điều trị thuyên tắc phổi

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Đối với giai đoạn cấp tính, chúng ta sẽ điều trị lâu dài để tránh bị tái phát. Trong giai đoạn này, nếu thuyên tắc phổi diễn ra ở diện rộng, huyết áp tụt, bệnh nhân sẽ rơi vào tình trạng sốc, chúng ta cần điều trị cấp cứu. Hiện, các bác sĩ vẫn ưu tiện sử dụng thuốc kháng đông để tránh hiện tượng đông máu trong động mạch phổi. Nếu nặng hơn, chúng ta có thể dùng thuốc tiêu sợi huyết, các thuốc này có thể truyền vào đường tĩnh mạch hoặc đưa qua ống thông nhỏ lên tim và động mạch phổi. Chúng ta truyền thẳng thuốc tiêu sợi huyết vào trong để làm tiêu cục máu đông hoặc sử dụng những ống thông lớn hơn đưa qua phổi thông qua đường tĩnh mạch ở đùi và hút huyết khối ra. Tuy nhiên, có một số trường hợp chúng ta không kịp làm và huyết áp bệnh nhân tụt nhanh, thì cần chuyển bệnh nhân đi mổ để mở rộng tim lấy huyết khối. ECMO là biện pháp thay thế cho phổi và tim. Đối với bệnh nhân bị thuyên tắc phổi, suy tim nặng, suy hô hấp, chúng ta đặt ECMO vào để đợi họ qua giai đoạn nặng. Đồng thời, tìm phương pháp khác để lấy huyết khối ra và điều trị tiêu sợi huyết. Trong quy trình điều trị lâu dài, chúng ta điều trị bằng thuốc kháng đông. Thuốc có thể được chích hay uống, thời gian dùng kéo dài từ 3 đến 6 tháng. Khi dùng thuốc kháng đông, các biến chứng cần được quan tâm. Ví dụ như thuốc kháng đông đường uống, mỗi người sẽ đáp ứng thuốc khác nhau và hiệu quả thuốc kháng đông phụ thuộc vào sự tương tác với các thuốc khác. Khi sử dụng thuốc kháng đông, chúng ta cần theo dõi bệnh nhân có uống thuốc đi kèm hay không. Ăn rau xanh cũng giúp thay đổi hiệu quả của thuốc kháng đông, do đó bệnh nhân phải rất kiêng cử và tái khám định kỳ để đánh giá vấn đề tương tác của thuốc có được giải quyết hay chưa. Trong một số trường hợp, thuyên tắc phổi có thể chuyển sang giai đoạn mãn tính. Dần dần, nó sẽ trở thành căn bệnh khó điều trị đó là tăng áp động mạch phổi do huyết khối trong động mạch phổi. Trong một số trường hợp, bệnh nhân phải mổ nhưng tỷ lệ thành công không quá cao.PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định - Phó Giám đốc Trung tâm Tim mạch - Trưởng Khoa Phẫu thuật Tim mạch, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM

9. Thời gian vàng tiêu sợi huyết trong điều trị thuyên tắc phổi

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Thời gian vàng trong thuyên tắc phổi không giống như đột quỵ và nhồi máu cơ tim. Ví dụ như nhồi máu cơ tim được quy định sau 2 giờ là có thể phục hồi hoàn toàn, 6 giờ bệnh nhân có thể phục hồi. Sau 12 giờ, hiệu quả phục hồi sẽ không cao. Mô não và mô cơ tim đã chết, việc sử dụng thuốc tiêu sợi huyết chỉ làm tai biến. Đối với thuyên tắc phổi, nó vẫn được tưới máu bằng nhiều cách vì có 2 hệ thống cung cấp máu cho phổi. Ngoài động mạch phổi, còn có động mạch phế quản. Nhu mô phổi vẫn được nuôi bằng đường khác. Vấn đề của thuyên tắc phổi vẫn là suy tim phải vì tim phải không bóp máu được khiến bệnh nhân bị thiếu oxy. Bác sĩ sẽ đánh giá mức độ nặng của thuyên tắc phổi, khi nó chuyển từ độ 2 sang 3, chúng ta sẽ siêu âm tim và thấy mức độ co giãn của tim phải giãn rất kém, liên thất lệch sang bên trái và huyết áp tụt (huyết dưới 90 mmHg). Khi đó, chúng ta sẽ có chỉ định dùng thuốc tiêu sợi huyết. Sử dụng thuốc tiêu sợi huyết cần được cân nhắc và dùng đúng thời điểm. >>> Xem thêm: Thuốc chống đông máu Rivaroxaban sử dụng ra sao, tác dụng phụ thế nào?

10. Dùng thuốc kháng đông như thế nào cho an toàn và hiệu quả?

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Nếu bệnh nhân nằm viện, chúng ta sẽ sử dụng thuốc kháng đông tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da. Khi xuất viện, bệnh nhân sẽ sử dụng thuốc kháng đông đường uống. Thuốc kháng đông đường uống có nhiều loại: ví dụ như thuốc ức chế Vitamin K hoặc thuốc thế hệ mới. Những loại thuốc này gây ra biến chứng nguy hiểm như chảy máu, xuất huyết trong não, chảy máu đường tiêu hóa, tử vong do xuất huyết não. Vì vậy, cần cẩn thận với liều thuốc kháng đông và chúng ta sẽ đo lường liều thuốc bằng cách thử máu để xem liều thuốc có đạt được chỉ số mong muốn (ANR). Chỉ số ANR là chỉ số chuẩn hóa về đông máu, chỉ số mong muốn là 2.5. Khi bệnh nhân dùng thuốc kháng đông, chúng ta phải tái khám thường xuyên. Mỗi tháng, bệnh nhân cần xét nghiệm máu để xem mình đạt được liệu trình điều trị chưa. Nếu chưa đạt, thuốc không có tác dụng. Nếu nó vượt quá ngưỡng, chúng ta phải giảm liều thuốc và liều thuốc sẽ khác theo từng bệnh nhân. Có bệnh nhân dùng liều thấp nhưng đạt được liều điều trị, một số người phải dùng liều cao hơn. Trước khi chỉ định dùng thuốc kháng đông, bác sĩ sẽ đánh giá bệnh nhân có nguy cơ chảy máu, có khối u trong não hay không, bệnh nhân có ổ loét dạ dày, loét tá tràng, chúng ta cần rất thận trọng khi sử dụng thuốc kháng đông.

11. Chế độ dinh dưỡng cho người thuyên tắc phổi

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Trong điều trị thuyên tắc phổi, người bệnh cần vận động và uống nhiều nước. Có 3 yếu tố gây ra bệnh thuyên tắc phổi, nội mạc động mạch, tăng đông trong máu và sức co của thành mạch. Khi mất cân bằng, nó sẽ hình thành cục máu đông và đi về phổi. Đối với mảng xơ vữa, nó thường xuất hiện ở động mạch nhiều hơn tĩnh mạch. Chúng ta cần khuyến khích ông bà và cha mẹ vận động thường xuyên, họ có thể vận động trên giường. Khi chúng ta đang ở trong tư thế ngồi, đi máy bay, phải có những lúc đứng dậy hoặc đưa chân lên phía trước và hạ chân xuống. Khi bàn chân làm vậy, bắp chân sẽ co bóp và máu ứ động sẽ được tống đi. Người lớn tuổi cần uống đủ nước vì máu đặc sẽ chảy chậm hơn và gây thuyên tắc nhiều hơn.

Tóm tắt thông tin quan trọng 1. Thuyên tắc phổi dễ nhầm với các bệnh lý khác, chúng ta cần lưu ý đến việc chẩn đoán thuyên tắc phổi ở một số đối tượng đặc biệt như người lớn tuổi, người bị ung thư, người dùng thuốc ngừa thai estrogen, người mới phẫu thuật. 2. Các triệu chứng thường gặp như khó thở, đau ngực, ho ra máu, choáng váng, tim đập nhanh, tụt huyết áp. Thuyên tắc phổi tuy không gặp nhiều như các bệnh lý khác nhưng nó là nguyên nhân gây tử vong thứ hai sau nhồi máu cơ tim. Chẩn đoán sai có thể dẫn đến kết quả điều trị không tốt. 3. Khi vào cấp cứu, các bác sĩ sẽ phân và sàng lọc nhóm nguy cơ: thấp, trung bình và cao. Đối với nhóm nguy cơ cao, điều trị rất phức tạp, thành công của việc điều trị không đạt 100%. Đối với nhóm nguy cơ thấp và trung bình, bệnh nhân sẽ được điều trị tại bệnh viện một thời gian. Sau đó xuất viện và dùng thuốc. Thuốc điều trị thuyên tắc phổi là thuốc kháng đông. Một số điều cần lưu ý khi sử dụng thuốc kháng đông: khi thăm khám, chúng ta cần đảm bảo liều thuốc phù hợp với từng người, tránh tình trạng dùng thuốc không đủ hay quá liều dẫn đến biến chứng. 4. Phòng ngừa thuyên tắc phổi ở người cao tuổi: người lớn tuổi cần vận động, ví dụ như khi chúng ta không đứng dậy được khi đi máy bay, chúng ta cần tìm giải pháp khắc phục. Khi bệnh nhân bị thuyên tắc phổi được điều trị tại nhà, người thân cần cho bệnh nhân mang vớ áp lực hoặc vớ bơm ngắt quãng để sử dụng.

  CÂU HỎI BẠN ĐỌC

12. Điều trị dự phòng thuyên tắc kéo dài bao lâu?

Bố tôi tuổi cao, bị COVID-19 phải điều trị tại bệnh viện. Nay ông đã về nhà, và được điều trị huyết khối thuyên tắc tĩnh mạch. Việc điều trị thuyên tắc được thực hiện đến khi nào thì sẽ dừng, nó có để lại những di chứng gì về sau hay không? PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Điều trị dự phòng thuyên tắc là một trong những điều trị ở giai đoạn hậu COVID. Thông thường, các bác sĩ sẽ đánh giá bệnh nhân có bị chảy máu hay không. Nếu bệnh nhân không nằm trong nhóm nguy cơ chảy máu, bác sĩ sẽ kê các loại thuốc để dự phòng thuyên tắc. Các loại thuốc có thể là thuốc kháng Vitamin K hoặc thuốc kháng đông ít gây tai biến hơn. Thời gian điều trị là từ 3 đến 6 tháng.

13. Nhói ngực hậu COVID-19, nguy hiểm không?

Tôi nhiễm COVID-19 vào cuối tháng 5/2022, giữa tháng 6 đến nay tôi bị nhói nhẹ ngực bên trái. Số lần nhói không nhiều, trước đây tôi chưa gặp tình trạng như vậy. Tôi có cần đi khám hay không hoặc để dần dần rồi bệnh sẽ hết? PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Triệu chứng nhói ngực không phải triệu chứng đặc hiệu, nó có thể do nhiều nguyên nhân gây nên. Có một số nguyên nhân liên quan đến COVID hoặc không liên quan đến COVID. COVID-19 có thể gây ung thư phổi, màng phổi và gây triệu chứng đau ngực hoặc chúng ta biết có những thuyên tắc gây ra những triệu chứng như vậy. Vì vậy, các phòng khám hậu COVID rất phổ biến và giúp ích nhiều. Cần đi khám để xem tình trạng của chúng ta như thế nào. Chúng ta có thể chụp hình phổi hay làm xét nghiệm máu để yên tâm hơn.

14. Tiền sử nhồi máu cơ tim, hậu COVID-19 có dễ bị thuyên tắc phổi?

Bố tôi năm nay 55 tuổi, ông bị nhồi máu cơ tim. Ông đã tiêm đủ 2 mũi vắc xin COVID-19 vào tháng 8/2021 và tháng 1/2022. Ông không tiêm mũi 3 và nhiễm COVID-19 cách đây 3 tuần và đã âm tính. Sau khi hết bệnh, bố tôi thường hay bị yếu, mệt cần được nằm nghỉ. Tôi biết hậu COVID-19 có thể gây ra tình trạng cục máu đông gây tắc phổi. Liệu trường hợp bố tôi có nguy cơ bị như vậy hay không? Có cách nào để bố tôi phòng ngừa hay không? PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Sau khi bị COVID-19, ông có thể bị tổn thương phổi và có thể nằm một chỗ. Ông nằm trong nhóm nguy cơ có thể bị nguy cơ tim mạch phổi. Vì vậy, đối với trường hợp của ông, ông cần vận động nhiều, uống đủ nước. Tập các bài tập có liên quan đến chân, đa số trường hợp thuyên tắc phổi xảy ra ở chân. Chúng ta cần đi khám hậu COVID-19 và dùng một số thuốc để phòng ngừa thuyên tắc. Nếu ông bị giãn tĩnh mạch, ông có thể mang vớ áp lực. Trước khi mang vớ áp lực, ông cần phải đo vòng chân của mình.

15. Hay có vết bầm tím, kèm khó thở, đau đầu về đêm, phải làm sao?

Em đọc báo thấy nhiễm COVID-19 có nguy cơ bị đột quỵ cũng như thuyên tắc phổi hay tắc tĩnh mạch. Nhiều người khuyên uống hoạt huyết nên em uống từ trước đến nay. Em đã khỏi bệnh và người em hay có vết bầm tím, thi thoảng khó thở, đau đầu về đêm. Như vậy, em có cần tiếp tục uống hoạt huyết và đi khám không, thưa BS? PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: Tôi không rõ về sản phẩm này lắm nên không tư vấn được nhiều. Các sản phẩm thực phẩm chức năng có tính năng lưu thông máu dưới dạng Đông y hoặc nam dược. Bệnh nhân uống vào và thấy bầm tím trên người, có thể họ bị xuất huyết dưới da. Để đánh giá tình trạng đông cầm máu, bạn nên vào bệnh viện để làm một số xét nghiệm để xem bạn có bị rối loạn đông cầm máu hay không?

16. Tim có bị tổn thương sau khỏi COVID-19?

Em thấy nhiều người nhiễm COVID-19 không bị ho, khi đi khám phổi bị trắng. Như vậy, tim có tình trạng tương tự không? Em sợ hậu COVID-19 đi khám lại phát hiện tổn thương tim nặng. Có tình trạng này không bác sĩ? PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định trả lời: COVID-19 tấn công vào tế bào phổi, tim thông qua thụ thể. Thụ thể này giống nhau ở tế bào tim và phổi. Triệu chứng thường thể hiện ở phổi nhiều hơn khiến phổi bị đông đặc, sơ. Nhiều khi phổi gặp hội chứng ARDS. Đối với tế bào cơ tim, biểu hiện ở cơ tim sẽ ít hơn. Các nghiên cứu về viêm cơ tim do COVID-19 đã được công bố, trong đó người ta chụp MRI để đánh giá tế bào cơ tim có bị sẹo sơ hóa hay không. Họ thấy có hiện tượng này. Thông thường các biểu hiện lâm sàng dẫn đến suy tim, nhồi máu cơ tim, chúng ta chưa thấy rõ ràng như tổn thương ở phổi. Chúng ta chỉ thấy được những tổn thương ở trên xét nghiệm hình ảnh, về lâm sàng, có một số trường hợp viêm cơ tim sau COVID dẫn đến suy tim. Tuy nhiên, triệu chứng ở phổi vẫn là triệu chứng phổ biến.

Trọng Dy, benhdotquy.net (Nguồn: Video AloBacsi)

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Một gói thuốc được quảng cáo “chống đột quỵ cấp tốc”, vài lời truyền miệng trên mạng xã hội và niềm tin rằng có thể “câu giờ” trước khi đến bệnh viện – tất cả đang tạo nên một xu hướng nguy hiểm: người nhà tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc đột quỵ ngay tại nhà hoặc thậm chí ngay trong phòng cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, hành động tưởng như cứu người này có thể khiến bệnh nhân mất cơ hội sống.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ