Thiếu máu cơ tim: Dấu hiệu, nguyên nhân và cách điều trị
Bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí đe dọa tới tính mạng người bệnh. Trong đó nhồi máu cơ tim là biến chứng thường gặp nhất. Vậy làm sao để nhận biết sớm các triệu chứng và điều trị bằng cách nào? BS.CK1 Cao Thị Lan Hương – bệnh viện Trưng Vương sẽ lý giải ngay sau đây!
>>> Xem thêm: Thông tin về BS.CK1 Cao Thị Lan Hương
Mục lục
1. Bệnh thiếu máu cơ tim là gì?
Thưa bác sĩ, thiếu máu cơ tim là bệnh gì? Thiếu máu cơ tim và thiếu máu cơ tim cục bộ có phải là một không? BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Thiếu máu cơ tim và thiếu máu cơ tim cục bộ là hai tên gọi chỉ cùng 1 bệnh. Bệnh thiếu máu cơ tim, hay bệnh tim thiếu máu cục bộ (ischemic heart disease – IHD) là một nhóm bệnh thuộc bệnh động mạch vành (Coronary artery disease – CAD), bao gồm: bệnh tim thiếu máu cục bộ ổn định (Stable ischemic heart disease – SIHD), hội chứng vành cấp (acute coronary syndrome) và đột tử do bệnh mạch vành (sudden death due to coronary heart disease). Thiếu máu cơ tim cục bộ là tình trạng một vùng cơ tim bị giảm lưu lượng máu tới nuôi dưỡng, nên không nhận đủ máu và oxy, mà nguyên nhân xuất phát từ việc một hay nhiều mạch máu nuôi tim (hệ động mạch vành) bị hẹp, gây tổn thương một phần cơ tim – nơi được nuôi bởi những mạch máu bị hẹp này. Hậu quả là người bệnh xuất hiện triệu chứng cơn đau thắt ngực, khó thở, đánh trống ngực, thậm chí là ngất, đột ngột ngưng tim.
2. Mức độ nguy hiểm của thiếu máu cơ tim
Thiếu máu cơ tim nguy hiểm ra sao? Về lâu dài, nó có thể gây ra nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não không? BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí đe dọa tới tính mạng người bệnh. Trong đó nhồi máu cơ tim là biến chứng thường gặp nhất. Khi các mảng xơ vữa động mạch bị nứt vỡ sẽ tạo điều kiện hình thành cục máu đông gây bít tắc mạch máu và cản trở hoàn toàn dòng máu tới nuôi tim. Khi đó một vùng cơ tim không có máu tới nuôi dưỡng sẽ nhanh chóng bị hoại tử và chết đi, người bệnh có nguy cơ tử vong cao nếu không được cấp cứu kịp thời. Việc giảm lưu lượng máu tới nuôi dưỡng trong một thời gian dài cũng khiến cơ tim dần bị suy yếu và dẫn tới suy tim. Các hoạt động của hệ thống điện tim cũng có thể bị xáo trộn và gây ra nhiều rối loạn nhịp tim nguy hiểm. Theo đó, thiếu máu cơ tim còn là nguyên nhân dẫn đến một số biến chứng nguy hiểm khác như rối loạn nhịp tim, rung nhĩ… Ở người bị rung nhĩ, nhĩ trái có thể đập nhanh hơn và không kiểm soát được lên đến 400 lần một phút. Nhĩ trái rung lên chứ không co bóp nhịp nhàng nữa, máu trong buồng nhĩ chảy xoắn và tồn đọng sẽ gia tăng hình thành cục máu đông trong buồng nhĩ. Cục máu đông nếu lỡ trôi xuống thất trái và đi vào động mạch chủ lên não sẽ gây ra đột quỵ nhồi máu não khi nó mắc kẹt lại tại một mạch máu não có đường kính nhỏ hơn. Nếu không được điều trị, rung nhĩ có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ từ 4 đến 6 lần. Như vậy, thiếu máu cơ tim có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm gồm nhồi máu cơ tim cấp, suy tim, tai biến mạch máu não, đột tử.
3. Triệu chứng của thiếu máu cơ tim
Triệu chứng điển hình khi một người bị thiếu máu cơ tim gồm những gì? Và các triệu chứng không điển hình sẽ ra sao? BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Triệu chứng lâm sàng điển hình của thiếu máu cục bộ cơ tim là cơn đau thắt ngực. Cơn đau thắt ngực điển hình biểu hiện bằng cảm giác khó chịu ở ngực, hàm, vai, lưng hoặc cánh tay, triệu chứng gia tăng khi gắng sức hoặc stress tình cảm, biến mất khi ngậm nitroglycerin. Cơn đau thắt ngực gọi là ổn định khi các đặc điểm của cơn đau (tần suất, độ nặng, thời gian đau, giờ xuất hiện và yếu tố làm nặng) không thay đổi trong 60 ngày trước. Bệnh nhân có thể không có cảm giác đau, mà mô tả cảm giác khác ở ngực như: đè nặng, bóp nghẹt, khó chịu, nóng bỏng, khó tiêu, xiết chặt, tức, đầy đầy, nặng ngực… vị trí đau thường ở sau xương ức hay ngực trái, có thể kèm hoặc chỉ đau thượng vị, có thể lan tới cánh tay, ít hơn tới 2 vai, hàm dưới, bụng nhưng không lan xuống dưới rốn. Người bệnh cần chú ý là có 2 loại đau thắt ngực là đau thắt ngực ổn định và không ổn định. Cơn đau thắt ngực ổn định là loại đau thắt ngực phổ biến nhất, xảy ra khi hoạt động gắng sức và giảm khi nghỉ ngơi hoặc khi sử dụng các thuốc giãn mạch. Do vậy, người bệnh có thể dự đoán được thời điểm xuất hiện cơn đau. Nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng đau thắt ngưc ổn định là do những mảng xơ vữa ổn định, không bị nứt gãy hoặc không bị vỡ. Cơn đau thắt ngực không ổn định là tình trạng không thể dự đoán được. Nguyên nhân chủ yếu do sự nứt vỡ những mảng xơ vữa không ổn định, từ đó hình thành cục máu đông gây tắc nghẽn lòng mạch vành. Cơn đau diễn ra đột ngột, có thể xuất hiện ở bất kỳ thời điểm nào, ngay cả khi bạn đang nghỉ ngơi hay đang ngủ. Mức độ đau nghiêm trọng hơn rất nhiều so với đau thắt ngực ổn định và có thể không giảm bớt khi bạn nghỉ ngơi hoặc sử dụng thuốc. Đau thắt ngực không ổn định rất nguy hiểm vì đây thường là dấu hiệu cảnh báo một cơn nhồi máu cơ tim. Mặt khác, không phải lúc nào cơn đau thắt ngực cũng điển hình như vậy, mà thường gặp hơn là những cơn đau thắt ngực không điển hình, và những triệu chứng tương đương với cơn đau thắt ngực. Theo đó, bệnh nhân có thể chỉ có cảm giác khó thở khi gắng sức, rất giống với bệnh lý phổi tắc nghẽn mạn tính; hay đau thượng vị khi gắng sức, rất giống với cơn đau dạ dày, và có khi chỉ là cảm giác mệt, giảm dung nạp với gắng sức. Hoặc như, bệnh nhân bị đau dây thần kinh liên sườn nhưng lại có cảm giác giống với cơn đau ngực không điển hình do tim.
Nguyên nhân gây thiếu máu cơ tim cục bộ chủ yếu là do tắc hẹp mạch vành (xơ vữa mạch, cục máu đông) và co thắt vành.
4. Nguyên nhân gây thiếu máu cơ tim
Thiếu máu cơ tim thường phát triển chậm hay xảy ra nhanh chóng đột ngột? Và thường do những nguyên nhân nào gây ra? BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Nguyên nhân gây nên bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ thường gặp nhất là do xơ vữa hệ động mạch vành. Các mảng xơ vữa xuất hiện làm hẹp lòng động mạch vành (mạch máu nuôi tim) và hạn chế dòng máu tới tim. Lúc đầu tình trạng hẹp lòng mạch biểu hiện không rõ ràng nhưng dần dần các mảng xơ vữa phát triển dày thêm thì thiếu máu cục bộ cơ tim sẽ nặng dần hơn và các triệu chứng xuất hiện rõ ràng hơn. Và đó là cơ chế của bệnh tim thiếu máu cục bộ ổn định, bệnh phát triển chậm. Trường hợp các mảng xơ vữa mềm hoặc lớn và mất ổn định, chúng có thể bong ra bất cứ lúc nào, hình thành cục máu đông làm bít tắc mạch máu và gây nhồi máu cơ tim cấp. Một số trường hợp nhồi máu cơ tim cấp diện rộng hay rối loạn nhịp nghiêm trọng xuất hiện trong cơn nhồi máu cơ tim cấp có thể đưa đến bệnh cảnh đột tử do bệnh mạch vành. Cho nên, về mặt bệnh học thì thiếu máu cơ tim tiến triển âm thầm qua nhiều năm, đến khi có biểu hiện ra ngoài thì động mạch vành đã hẹp từ 70% trở lên.Về bệnh cảnh lâm sàng thì thiếu máu cơ tim có thể phát triển từ từ theo kiểu bệnh tim thiếu máu cục bộ ổn định, nhưng cũng có thể xuất hiện đột ngột, nhanh chóng như hội chứng vành cấp, đột tử do bệnh mạch vành.
5. Những yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng gây thiếu máu cơ tim?
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Yếu tố nguy cơ là các yếu tố liên quan với sự gia tăng khả năng bị mắc bệnh. Một người mang một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ nào đó có nghĩa là có sự gia tăng khả năng mắc bệnh của người đó chứ không phải bắt buộc là chắc chắn sẽ bị bệnh. Thường thì các yếu tố nguy cơ hay đi kèm nhau, thúc đẩy nhau phát triển và làm nguy cơ bị bệnh tăng theo cấp số nhân. Các yếu tố có khả năng làm tăng nguy cơ phát triển bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ, gồm: – Các yếu tố nguy cơ không thay đổi được:
- Tuổi tác: Động mạch ở người lớn tuổi rất dễ bị tổn thương và trở nên hẹp hơn.
- Giới tính: Nam giới cũng có nhiều nguy cơ phát triển bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ hơn phụ nữ, nhưng khi phụ nữ tới độ tuổi mãn kinh thì nguy cơ mắc bệnh ở hai giới là như nhau.
- Tiền sử gia đình: Tiền sử gia đình có người mắc bệnh mạch vành hay đột quỵ thì nguy cơ bạn cũng mắc các bệnh này cao hơn.
– Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được:
- Khói thuốc. Hút thuốc chủ động hay tiếp xúc với khói thuốc lâu dài có thể gây tổn thương thành động mạch. Khi đó, các mảng bám cholesterol và các chất khác có điều kiện thuận lợi để hình thành, khiến lưu lượng máu chậm lại. Hút thuốc cũng làm tăng khả năng bị co thắt động mạch vành và tăng nguy cơ tạo ra cục máu đông.
- Bệnh đái tháo đường: đường huyết cao thúc đẩy hình thành mảng xơ vữa động mạch.
- Tăng huyết áp. Theo thời gian, huyết áp cao có thể thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch diễn ra nhanh hơn, gây tổn thương động mạch vành.
- Bệnh thận mạn.
- Nồng độ cholesterol cao. Cholesterol là một thành phần chính trong các mảng bám trên thành động mạch. Nồng độ cholesterol xấu (LDL) trong máu cao có khả năng là do yếu tố di truyền hoặc chế độ ăn có nhiều chất béo bão hòa và cholesterol.
- Nồng độ triglyceride cao. Triglyceride là một loại mỡ máu khác với cholesterol nhưng cũng góp phần gây ra xơ vữa động mạch.
- Béo phì. Béo phì có liên quan đến nhiều tình trạng sức khỏe khác như đái tháo đường, tăng huyết áp và cholesterol cao.
- Chu vi vòng bụng. Số đo này lớn hơn 89cm ở nữ giới và 102cm ở nam giới sẽ làm tăng nguy cơ bị tăng huyết áp, đái tháo đường và bệnh tim.
- Lười vận động thể chất. Không tập thể dục thường xuyên cũng góp phần gây béo phì và có liên quan đến tình trạng cholesterol hay mỡ máu cao.
- Lạm dụng rượu và ma túy
- Nữ giới trên 35 tuổi sử dụng thuốc tránh thai thường xuyên.
6. Cách chẩn đoán bệnh thiếu máu cơ tim
Thông qua các triệu chứng có thể đánh giá người bệnh mắc thiếu máu cơ tim nhẹ hay nặng không? Hay bằng phương pháp nào? BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Nếu chỉ dựa vào triệu chứng mà bệnh nhân cảm nhận, chúng ta có thể đánh giá sai mức độ nặng thật sự của tình trạng thiếu máu cơ tim. Bởi vì triệu chứng của người bệnh là cảm giác chủ quan, có thể không tương xứng với độ nặng của bệnh, như có một số trường hợp thiếu máu cơ tim thầm lặng, khi đó bệnh nhân hoàn toàn không có cơn đau ngực. Do đó, để chẩn đoán bệnh cũng như khảo sát mức độ nặng của bệnh, ngoài thông tin về triệu chứng của bệnh nhân, bác sĩ sẽ thực hiện thêm một số xét nghiệm và kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác như: – Đo điện tâm đồ (ECG) để ghi lại hoạt động điện tim và tìm kiếm dấu hiệu bất thường. – Xquang ngực. mặc dù Xquang tim phổi có thể bình thường ở bệnh nhân có cơn đau thắt ngực ổn định, nhưng nó sẽ giúp ích trong việc tìm ra những bệnh nhân đau ngực không do động mạch vành như viêm phổi, thuyên tắc phổi… – Trắc nghiệm gắng sức (stress test), theo dõi nhịp tim, huyết áp và hơi thở của người bệnh trong khi thực hiện một số hoạt động thể chất như chạy bộ hay đạp xe trên máy. Qua đó, các vấn để của thiếu máu cơ tim có thể được phát hiện. – Siêu âm tim để thu lấy hình ảnh của trái tim. Qua quan sát, bác sĩ có thể xác định khu vực nào bị tổn thương và không còn khả năng co bóp như bình thường. – Chụp cắt lớp động mạch vành có cản quang: giúp kiểm tra mức độ tắc nghẽn và vôi hóa mạch vành. – Chụp động mạch vành xóa nền (DSA), đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh mạch vành, đây là bước nhịp cầu để tiến hành can thiệp mạch vành (như đặt stent mạch vành, nong mạch vành). Chụp động mạch vành xóa nền và can thiệp mạch vành qua da còn gọi là “thông tim can thiệp”. – Xạ ký tưới máu cơ tim.
7. Điều trị thiếu máu cơ tim như thế nào?
Phương pháp điều trị thiếu máu cơ tim là gì? Liệu thay đổi lối sống có giúp ích gì không? BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Hai mục tiêu chính của điều trị bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ là – Phòng ngừa nhồi máu cơ tim và tử vong do đó kéo dài đời sống – Giảm triệu chứng cơ năng do đó tăng chất lượng cuộc sống Để đạt mục tiêu này, bệnh nhân cần phải thay đổi lối sống và áp dụng các phương pháp điều trị không dùng thuốc (tập thể dục, cai thuốc lá, hạn chế bia rượu), song song đó, bác sĩ sẽ có hai phương pháp điều trị hỗ trợ cho bệnh nhân, đó là điều trị nội khoa và tái tưới máu cơ tim. – Điều trị nội khoa: Các nhóm thuốc thường được sử dụng bao gồm: Thuốc hạ mỡ máu: Giúp giảm cholesterol máu, hạn chế sự hình thành mảng xơ vữa. Thuốc chống đông: Ngăn chặn hình thành cục máu đông, giảm nguy cơ xảy ra nhồi máu cơ tim. Thuốc hạ huyết áp: Giảm gánh nặng cho tim và làm ổn định nhịp tim. Thuốc giãn mạch: Cải thiện tình trạng hẹp mạch vành, giảm nhanh triệu chứng đau thắt ngực. Thuốc chống oxy hóa cơ tim. – Tái tưới máu cơ tim: gồm can thiệp động mạch vành qua da hoặc phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Can thiệp động mạch vành qua da (PCI): Nong đoạn động mạch vành bị hẹp, đặt stent để tái lưu thông máu lại bình thường, giải quyết tình trạng tắc nghẽn do các mảng xơ vữa, giảm đau thắt ngực và nguy cơ nhồi máu cơ tim mà không phải mổ. Phẫu thuật bắc cầu mạch vành (CABG): Bác sĩ dùng một đoạn động hoặc tĩnh mạch nối từ nguồn cung cấp máu đến đoạn động mạch vành phía sau đoạn động mạch vành bị hẹp. Tĩnh mạch, động mạch ghép có thể lấy ở chân, cổ tay, động mạch vú bên trong thành ngực.
Thực phẩm lành mạnh sẽ giúp bảo vệ trái tim tốt hơn
8. Bệnh nhân thiếu máu cơ tim nên ăn gì, kiêng gì?
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Chế độ dinh dưỡng lành mạnh là một phần của quá trình điều trị, giúp hạn chế sự tiến triển của bệnh và giảm thiểu nguy cơ xảy ra biến chứng nhồi máu cơ tim cấp. Những nhóm thực phẩm mà người có bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim cần hạn chế là: – Thức ăn chứa nhiều dầu mỡ, cholesterol: như các loại thịt đỏ (thịt bò); mỡ, da, phủ tạng động vật; lòng đỏ trứng, gan, đồ ăn chiên xào, nước hầm xương… Đây là nhóm thực phẩm người bệnh thiếu máu cơ tim cần đặc biệt hạn chế bởi chúng có thể làm gia tăng nồng độ cholesterol máu, thúc đẩy sự phát triển của các mảng xơ vữa mạch vành và tăng cao nguy cơ nhồi máu cơ tim. – Muối: Chế độ ăn nhiều muối có thể làm tăng huyết áp, tăng gánh nặng cho tim và gia tăng các biến chứng tim mạch. Vì vậy, người bệnh thiếu máu cơ tim cần ăn hạn chế muối, tránh các thực phẩm chứa nhiều muối như dưa muối, hành muối hoặc các thức ăn chế biến sẵn như pate, lạp xưởng,… – Đồ ăn hoặc thức uống có chứa nhiều đường: như bánh, kẹo, nước ngọt… – Bia, rượu: tránh sử dụng bởi chúng có thể làm tăng huyết áp, tăng triglyceride máu và gây hại cho tim mạch. Mỗi ngày uống không quá 2 lon bia với nam và 1 lon bia đối với nữ. – Cafe, trà đặc cũng cần hạn chế đừng lạm dụng. Những nhóm thực phẩm mà người có bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim cần tăng cường là – Thực phẩm nhiều chất xơ: rau xanh, hoa quả tươi và các loại ngũ cốc nguyên hạt. – Omega 3: cá hồi, cá thu, cá trích, cá mòi và cá ngừ – sữa ít béo như sữa đậu nành, sữa tươi tách béo, sữa chua không béo và phô mai ít béo.
9. Để phòng ngừa cơ tim thiếu máu người bệnh cần lưu ý những gì?
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Bệnh thiếu máu cơ tim là bệnh có thể phòng ngừa được, cách phòng ngừa chính là: Tuân thủ lối sống lành mạnh
- Ngưng hút thuốc lá, tránh hút thuốc lá thụ động
- Thể dục thường xuyên, tối thiểu 30 – 45 phút mỗi ngày, các ngày trong tuần. Có thể đi bộ, chạy bộ, chạy xe đạp, bơi lội, đánh cầu lông, bóng bàn, đánh golf, tập yoga, thể dục nhịp điệu, thiền,.. tùy theo tình trạng sức khỏe mỗi người
- Hạn chế căng thẳng trong cuộc sống và công việc.
- Giảm cân nếu dư cân, béo phì (khi BMI >23): đặt mục tiêu giảm từ 5% đến 7% cân nặng trong vòng mỗi 6 tháng đến khi đạt cân nặng lý tưởng (BMI từ 18 – 22)
- Chế độ ăn tốt cho tim mạch:
- Ăn ít chất béo, thịt mỡ, chất bột đường, thực phẩm đóng hộp, thức ăn nhanh, hạn chế muối, giảm rượu bia.
- Nên ăn cá, thịt gia cầm; nên ăn nhiều trái cây, rau, củ, quả, hạt, thực phẩm tươi, organic.
Điều trị tốt các bệnh lý đi kèm:
- Kiểm soát lượng đường trong máu nếu bạn có đái tháo đường
- Điều trị ổn định huyết áp và mỡ máu
Tầm soát bệnh thiếu máu cơ tim: Theo Hội Tim mạch Mỹ (American Heart Association – AHA), mọi xét nghiệm tầm soát bệnh thiếu máu cơ tim nên bắt đầu từ lúc 20 tuổi. Mức độ kiểm tra thường xuyên phụ thuộc vào mức độ nguy cơ của người bệnh.
Benhdotquy.net
Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?
Một gói thuốc được quảng cáo “chống đột quỵ cấp tốc”, vài lời truyền miệng trên mạng xã hội và niềm tin rằng có thể “câu giờ” trước khi đến bệnh viện – tất cả đang tạo nên một xu hướng nguy hiểm: người nhà tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc đột quỵ ngay tại nhà hoặc thậm chí ngay trong phòng cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, hành động tưởng như cứu người này có thể khiến bệnh nhân mất cơ hội sống.
Multimedia
Theo dõi trên:Video
Chóng mặt kéo dài, coi chừng đột quỵ: Bác sĩ cảnh báo dấu hiệu dễ nhầm lẫn
Chóng mặt là triệu chứng rất phổ biến, nhưng không phải lúc nào cũng vô hại. Trong nhiều trường hợp, đây có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của đột quỵ, đặc biệt khi kéo dài, dữ dội hoặc kèm theo các biểu hiện bất thường. Các bác sĩ khuyến cáo người dân cần nhận biết đúng để tránh nhầm lẫn nguy hiểm và không bỏ lỡ “thời gian vàng” điều trị.
Sống sót sau đột quỵ, làm gì để không bị lần 2?
Giới trẻ và đột quỵ: Khi lối sống hiện đại trở thành sát thủ âm thầm
Giải mã mối quan hệ nguy hiểm giữa đái tháo đường và đột quỵ
Phòng Tránh Đột Quỵ – Bắt Đầu Từ 5 Bài Tập Đơn Giản
Ngăn đột quỵ ngay từ phút đầu – Những điều nên biết
7 tình huống khiến đường huyết tăng vọt có thể bạn chưa biết
















">
">
"> 
