Tăng huyết áp và những biến chứng nguy hiểm mà bạn cần biết!

Cao huyết áp là một loại bệnh nền có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng nếu không được điều trị sớm. Để phòng tránh tình trạng tăng huyết áp, ThS.BS Nguyễn Mạnh Cường – Trưởng khoa Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ sẽ giải thích rõ hơn cho quý bạn đọc.

24-08-2022 21:32
Theo dõi trên |

1. Tăng huyết áp là gì?

ThS.BS Nguyễn Mạnh Cường trả lời: Tăng huyết áp là áp lực trong lòng mạch máu bị tăng cao quá mức so với bình thường. Áp lực bình thường khoảng 110 đến 120 mmHg. Khi huyết áp tăng lên 130 mmHg hoặc áp lực tâm trương khoảng 90 mmHg, gọi là triệu chứng của tiền tăng huyết áp.

2. Chỉ số huyết áp bao nhiêu gọi là tăng huyết áp?

ThS.BS Nguyễn Mạnh Cường trả lời: Cách phát hiện tăng huyết áp rất đơn giản, bằng cách sử dụng máy đo huyết áp. Đối với máy đo bắp tay, có 2 chỉ số: huyết áp tâm thu (khi tim co bóp) và huyết áp tâm trương (tim giãn nở). Nếu huyết áp tâm thu tăng từ 130 mmHg trở lên và huyết áp tâm trương tăng từ 85 mmgHg trở lên là dấu hiệu của tăng huyết áp. Thông thường, nhiều người sẽ để ý đến huyết áp tâm thu, nếu từ 130 đến 140 mmHg sẽ gọi là tiền tăng huyết áp. Nếu huyết áp từ 140 đến 160 mm Hg là tăng huyết áp mức độ 1. Từ 160 mm Hg trở lên, là tăng huyết áp độ 2. Huyết áp tâm trương cũng tương tự như vậy, từ 85 đến 90 mm Hg là dấu hiệu tiền tăng huyết áp. Từ 90 đến 100 mm Hg là tăng huyết áp độ 1. Trên 100 mm Hg là tăng huyết áp độ 2. Đó là những chỉ số đo giúp chúng ta phát hiện ra tình trạng tăng huyết áp.

3. Ai có nguy cơ bị tăng huyết áp?

ThS.BS Nguyễn Mạnh Cường trả lời: Trước đây tăng huyết áp vô căn chỉ xảy ra ở người từ 40 đến 50 tuổi trở lên. Nhưng gần đây, do lối sống thay đổi nhiều, các bác sĩ phát hiện ra những trường hợp tăng huyết áp ở tuổi quá trẻ. Có những người chỉ mới 20 tuổi trở lên đã có biểu hiện tăng huyết áp.

4. Dấu hiệu nhận biết tình trạng tăng huyết áp.

ThS.BS Nguyễn Mạnh Cường trả lời: Đầu tiên, triệu chứng sẽ là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, xây xẩm. Đau đầu có thể xảy ra ở vùng sau gáy hay phía trước. Trong một số trường hợp, cơn đau xảy ra rất dữ dội, thì đây có thể là nguy cơ đột quỵ não do tăng huyết áp gây nên. Bên cạnh đó, các dấu hiệu khác như mệt mỏi, tức ngực. Khi huyết áp cao quá, tim phải gồng lên để bóp và gây sức ép lên tim, dẫn đến tình trạng tức ngực. Trong một số trường hợp khác, biểu hiện có thể là chảy máu cam hoặc nóng bừng mặt lên. Tuy nhiên, theo quan sát gần đây tăng huyết áp không còn đột ngột mà biểu hiện dần dần. Tức là huyết áp tăng dần theo mức độ. Cơ thể chúng ta có khả năng thích nghi với sự gia tăng của huyết áp. Một số người hoàn toàn không có triệu chứng, họ vẫn sinh hoạt và lao động bình thường. Họ không bị giới hạn gì về thể chất nhưng khi đi đo huyết áp, huyết áp có thể lên đến 180 hay 190 mm Hg trong một số trường hợp. Đó là dấu hiệu cho thấy cần thăm khám sức khỏe nhiều hơn.

Theo ThS.BS Nguyễn Mạnh Cường, người bệnh tăng huyết áp cần theo dõi và kiểm soát tốt chỉ số huyết áp để phòng ngừa biến chứng xảy ra. Theo ThS.BS Nguyễn Mạnh Cường, người bệnh tăng huyết áp cần theo dõi và kiểm soát tốt chỉ số huyết áp để phòng ngừa biến chứng xảy ra.

5. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tăng huyết áp

ThS.BS Nguyễn Mạnh Cường trả lời: Có rất nhiều yếu tố, nguyên nhân gây ra tình trạng tăng huyết áp. Nhóm thứ nhất là tăng huyết áp vô căn, xảy ra ở người có độ tuổi trung niên trở lên, đối với nam là khoảng 50 và nữ khoảng 55. Đa số những trường hợp đó là tăng huyết áp vô căn. Tỷ lệ tăng huyết áp vô căn chiếm khoảng 80 đến 90% không có nguyên nhân, tức là đến tuổi mạch máu bị xơ cứng khiến cho áp lực mạch máu tăng lên và huyết áp cao lên. Nhóm thứ hai là tăng huyết áp thứ phát, trường hợp này yêu cầu chúng ta tìm ra được nguyên nhân. Ví dụ như người bị bệnh thận, hội chứng thận hư, viêm cầu thận cấp ở trẻ em (từ 10 tuổi trở lên), có thể bị huyết áp rất cao. Sử dụng chất kích thích, chất corticoid cũng gây ra tình trạng tăng huyết áp. Bên cạnh đó, nó cũng liên quan đến các bệnh lý bẩm sinh như ở người lớn tuổi như tăng huyết áp do hẹp động mạch thận hoặc bệnh nhân bị suy thận. Tuy nhiên, khi phát hiện được tăng huyết áp thứ phát và điều trị được bệnh, huyết áp của bệnh nhân sẽ trở về bình thường. >>> Xem thêm: Người bị tăng huyết áp nên tầm soát bệnh tim mạch như thế nào?

6. Cách điều trị tình trạng tăng huyết áp

ThS.BS Nguyễn Mạnh Cường trả lời: Trước tiên, chúng ta phải thay đổi lối sống, chế độ ăn uống và sinh hoạt. Không nên ăn quá 6 gram muối một ngày. Ăn lạt sẽ giúp huyết áp được ổn định trở lại và hạ xuống ở mức độ an toàn. Thứ hai, người bị tăng huyết áp cần uống nhiều nước, bổ sung rau củ và trái cây để bồi dưỡng thêm chất Kali cho cơ thể, giúp ổn định huyết áp. Đối với người bị béo phì hay hội chứng ngưng thở khi ngủ, cần vận động và tập thể dục để giúp cơ thể được cân bằng và chỉ số BMI giảm. Nó cũng là yếu tố giúp kiểm soát được huyết áp tốt hơn. Phương pháp khác là sử dụng thuốc điều trị. Hiện nay, thị trường có nhiều loại thuốc huyết áp rất phổ biến, nhiều người sẽ ra nhà thuốc Tây để mua thuốc. Tuy nhiên, có 5 loại thuốc điều trị tăng huyết áp, nếu muốn biết thuốc nào phù hợp với bệnh nhân nào, cần đi khám bác sĩ ít nhất 1 đến 2 lần để được đưa ra lời khuyên phù hợp.

Trọng Dy (ghi), benhdotquy.net (Nguồn: bệnh viện S.I.S Cần Thơ)

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Một gói thuốc được quảng cáo “chống đột quỵ cấp tốc”, vài lời truyền miệng trên mạng xã hội và niềm tin rằng có thể “câu giờ” trước khi đến bệnh viện – tất cả đang tạo nên một xu hướng nguy hiểm: người nhà tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc đột quỵ ngay tại nhà hoặc thậm chí ngay trong phòng cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, hành động tưởng như cứu người này có thể khiến bệnh nhân mất cơ hội sống.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ