Rối loạn lo âu và bệnh tim có mối liên quan như thế nào?

Người bị rối loạn lo âu sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là tăng huyết áp và bệnh mạch vành. Vậy có cách nào để kiểm soát bệnh hoặc phòng ngừa hiệu quả không? BS.CK1 Cao Thị Lan Hương – bệnh viện Trưng Vương sẽ hướng dẫn bạn đọc ngay sau đây!

17-09-2022 08:14
Theo dõi trên |

1. Rối loạn lo âu là gì?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Mỗi người ai cũng sẽ phải trải qua nỗi sợ hãi và lo âu, nhiều lần trong đời. Sợ hãi là phản ứng cảm xúc, thể chất và hành vi đối với một mối đe dọa có thể nhận biết được diễn ra tức thì từ bên ngoài (ví dụ như kẻ đột nhập, một tai nạn xe cộ bất ngờ). Lo âu là một trạng thái cảm xúc căng thẳng, khó chịu của sự lo sợ và không thoải mái; nguyên nhân thường không rõ ràng. Lo âu ít gắn liền với thời gian chính xác của một mối đe dọa; nó có thể được dự đoán trước một mối đe dọa, tồn tại sau khi một mối đe dọa đã trôi qua, hoặc xảy ra mà không có một mối đe dọa có thể nhận biết được. Lo âu thường kèm theo những thay đổi về mặt cơ thể và hành vi tương tự như những gì gây ra bởi sự sợ hãi. Lo âu và sợ hãi là trạng thái cảm xúc bình thường của con người. Một số mức độ lo âu là thích nghi; nó có thể giúp mọi người chuẩn bị, thực hành và tập luyện để chức năng của họ được cải thiện và có thể giúp họ có một sự cẩn trọng hợp lý trong các tình huống nguy hiểm tiềm ẩn. Tuy nhiên, khi vượt quá mức độ nhất định, lo âu gây ra rối loạn chức năng và căng thẳng quá mức. Tại thời điểm này, nó là không thích hợp và được coi là một rối loạn. Như vậy, rối loạn lo âu là sự sợ hãi quá mức, không có nguyên nhân, do chủ quan của người bệnh và không thể giải thích được do một bệnh tâm thần khác hoặc do một bệnh cơ thể. Rối loạn lo âu là rối loạn mà bệnh nhân không thể kiểm soát được, biểu hiện vững chắc, mạn tính và khuếch tán, thậm chí có thể xảy ra dưới dạng kịch phát. Rối loạn lo âu thường phối hợp với tăng cảm xúc, biểu hiện qua các triệu chứng chung về nội tạng và vận động. Các rối loạn lo âu phổ biến hơn bất kỳ loại rối loạn tâm thần nào khác. Tuy nhiên, chúng thường không được nhận ra và do đó không được điều trị. Không được điều trị, lo âu kém thích nghi mãn tính có thể góp phần hoặc gây ảnh hưởng tới việc điều trị một số rối loạn về cơ thể nói chung.

Rối loạn lo âu là rối loạn mà bệnh nhân không thể kiểm soát được Rối loạn lo âu là rối loạn mà bệnh nhân không thể kiểm soát được

2. Dấu hiệu bị rối loạn lo âu

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Nhiều người không nghĩ mình mắc bệnh rối loạn lo âu, tuy nhiên nếu một người gặp phải các tình trạng dưới đây cần đi khám sớm vì đó là dấu hiệu của chứng rối loạn lo âu: – Cảm thấy lo lắng quá nhiều và nó ảnh hưởng tới công việc, các mối quan hệ và các phần khác của cuộc sống. – Sự sợ hãi, lo âu khiến cảm thấy buồn phiền và khó để kiểm soát chúng. – Cảm thấy chán nản, sử dụng rượu bia hoặc chất kích thích hoặc có các rối loạn tâm thần khác đi kèm với chứng lo âu. Ngoài ra, nếu nghĩ chứng lo âu của mình có liên quan tới một bệnh nền khác như tim mạch, đái tháo đường, ung thư, xương khớp… Hoặc có suy nghĩ hoặc hành vi tự tử…cần tới cơ sở y tế để được thăm khám và tư vấn cụ thể. >>> Xem thêm: Đối phó với rối loạn lo âu sau đột quỵ như thế nào?

3. Bệnh tim mạch hiện nay nguy hiểm ra sao?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Bệnh tim mạch (CVD) là bệnh lý của tim và mạch máu. Bệnh tim mạch bao gồm bệnh mạch vành (nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim), tăng huyết áp (cao huyết áp), bệnh động mạch ngoại biên, bệnh van tim, bệnh tim bẩm sinh, suy tim…vàtai biến mạch máu não (đột quỵ). Bệnh lý tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới, nhiều hơn cả bệnh lý ung thư, dù là ở các nước đã hay đang phát triển. Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế mỗi năm có khoảng 200.000 người tử vong vì bệnh tim mạch, chiếm 33% ca tử vong. Bệnh lý tim mạch thường được cho là chỉ gặp ở người lớn tuổi. Song trên thực tế, tần suất mắc bệnh ở người trẻ và trung niên cao hơn chúng ta nghĩ, nó có thể xảy ra với bất kỳ ai và bất kỳ lứa tuổi nào và tuổi mới bị mắc cũng ngày càng trẻ hoá. Những bệnh lý tim mạch phổ biến nhất hiện nay là tăng huyết áp và bệnh mạch vành hay còn có tên gọi là thiếu máu cơ tim.

4. Rối loạn lo âu có làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Mặc dù hầu hết các nghiên cứu về bệnh tim mạch chủ yếu tập trung vào các yếu tố nguy cơ sinh học (rối loạn glucose máu, rối loạn lipid máu, các yếu tố viêm…) và lối sống (ít vận động, béo phì, hút thuốc lá, nghiện bia rượu…), song hiện nay đã có nhiều bằng chứng cho thấy các yếu tố tâm lý và tâm thần có một vai trò rất quan trọng đến nguy cơ tim mạch, trong đó có chứng rối loạn lo âu và trầm cảm là được nghiên cứu nhiều nhất. Người bị rối loạn lo âu làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là tăng huyết áp và bệnh mạch vành. Các lo lắng, căng thẳng cấp tính có thể gây ra co thắt thậm chí là tắc cấp tính động mạch vành dẫn đến cơn đau tim, bệnh cơ tim do stress. Các lo lắng, căng thẳng kéo dài có thể làm tăng huyết áp. Các lo lắng về tâm lý, tình cảm làm mất tính ổn định điện của tim từ đó có thể gây ra rối loạn nhịp tim. Và như một vòng xoáy bệnh lý, người có bệnh mãn tính nói chung và bệnh tim mạch nói riêng thì càng tăng nguy cơ gặp chứng rối loạn lo âu. Tình trạng rối loạn lo âu này không chỉ bắt nguồn từ suy nghĩ của chính bệnh nhân mà một phần là do tác động của bệnh mạn tính lên hệ trục điều khiển thần kinh – nội tiết của bệnh nhân.

Khi tâm lý luôn xuất hiện trạng thái lo lắng, căng thẳng sẽ khiến cho tim chịu nhiều áp lực hơn Khi tâm lý luôn xuất hiện trạng thái lo lắng, căng thẳng sẽ khiến cho tim chịu nhiều áp lực hơn

5. Chẩn đoán rối loạn lo âu ở những người mắc bệnh tim mạch

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Việc chẩn đoán rối loạn lo âu ở người mắc bệnh tim mạch sẽ gặp nhiều khó khăn hơn các đối tượng khác. Bởi vì mối liên hệ giữa thần kinh và tim mạch vốn rất mạnh mẽ. Bình thường, khi chúng ta lo lắng, tự khắc tim chúng ta sẽ đập nhanh hơn, hơi thở gấp gáp hơn, bụng chộn rộn, tay chân không yên…Những người có rối loạn lo âu thì các triệu chứng này thường nhiều hơn nữa, trong cơn hoảng loạn, người bệnh có thể có cảm giác đau ngực, tim đập nhanh, chóng mặt, khó thở, vã mồ hôi, cảm giác như sắp chết. Các triệu chứng này tương đồng với triệu chứng của bệnh lý tim mạch thật sự, làm cho người bệnh nghĩ rằng mình có bệnh lý tim mạch hơn là do rối loạn lo âu gây ra các triệu chứng trên. Trên thực tế, bệnh nhân đi khám tim mạch rồi được bác sĩ phát hiện ra rối loạn lo âu còn nhiều hơn bệnh nhân đi khám phòng khám chuyên khoa thần kinh để tầm soát rối loạn lo âu. Điều này có nghĩa là chứng rối loạn lo âu có thể đưa đến các triệu chứng giống với tim mạch, người mắc bệnh tim mạch mà kèm rối loạn lo âu thì khi xuất hiện các triệu chứng này thì còn nghi ngờ cao hơn nữa là bệnh tim mạch của mình trở nặng, điều đó lại càng làm bệnh nhân lo lắng. Tình trạng tim mạch sẵn có như suy tim, rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp và bệnh mạch vành mất ổn định, ở bệnh nhân có rối loạn lo âu thì sẽ khó đáp ứng điều trị hơn các bệnh nhân khác. Bởi vì lo lắng thái quá sẽ làm tim không được nghỉ ngơi như vốn dĩ nó cần phải nghỉ ngơi nhiều hơn ở người đã có bệnh tim mạch. Nói tóm lại, chứng rối loạn lo âu đi cùng với bệnh lý tim mạch thường làm “rối” chẩn đoán của bác sĩ, vì cảm nhận của bệnh nhân thái quá hơn mức độ nặng thật sự của bệnh, làm tăng nguy cơ xảy ra chẩn đoán sai lệch, chẩn đoán quá tay, điều trị quá tay, lạm dụng thuốc, giảm hiệu quả điều trị bệnh, nguy cơ tai biến cũng tăng lên.

6. Điều trị bệnh tim mạch kèm rối loạn lo âu

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Những bệnh nhân có bệnh tim mạch kèm rối loạn lo âu sẽ được điều trị song song cả hai bệnh này, nếu mức độ rối loạn lo âu nhẹ, bác sĩ tim mạch có thể tư vấn cách điều trị không dùng thuốc và có thể kê 1 số thuốc thông dụng để điều trị rối loạn lo âu nhẹ song song với thuốc tim mạch. Những trường hợp rối loạn lo âu mức độ trung bình – nặng, người bệnh sẽ được hướng dẫn điều trị song song bởi hai bác sĩ chuyên khoa tim mạch và chuyên khoa tâm thần, vì việc sử dụng thuốc thường sẽ phức tạp hơn và bệnh nhân cũng cần trị liệu tâm lý nhiều bước hơn.

7. Cách kiểm soát bệnh khi bị bệnh tim và rối loạn lo âu

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Theo tôi, với những bệnh nhân mắc bệnh tim kèm rối loạn lo âu, thì để kiểm soát hiệu quả hai tình trạng này, trước hết là bệnh nhân cần phải chấp nhận là mình có bệnh, và cả hai bệnh, chứ không chỉ 1 bệnh. Sau đó, bệnh nhân nên tin tưởng vào hướng dẫn điều trị của bác sĩ, không nên nóng vội, việc điều chỉnh thuốc (thuốc tim mạch và thuốc thần kinh) thì luôn cần có thời gian để cơ thể thích nghi, và đáp ứng, đạt hiệu quả tối đa. Và cuối cùng, chính bệnh nhân cần phải thay đổi lối sống, sinh hoạt của chính mình để có sự cân bằng giữa sức khỏe thể chất, tinh thần và các cuộc sống thường nhật. Đa phần, niềm tin vào tôn giáo, chế độ ăn uống cân bằng và tập thể dục rất có lợi trong việc cải thiện cả bệnh lý tim mạch lẫn thần kinh.

Tuân thủ chỉ định điều trị của bác sĩ và thay đổi lối sống lành mạnh giúp kiểm soát bệnh tốt hơn. Tuân thủ chỉ định điều trị của bác sĩ và thay đổi lối sống lành mạnh giúp kiểm soát bệnh tốt hơn.

8. Người mắc bệnh tim giai đoạn cuối, nên làm gì?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Bệnh nào mà vào giai đoạn cuối thì cũng đều rất đau đớn cho người bệnh, bởi vì triệu chứng của bệnh lúc này là toàn phát. Bệnh nhân mắc bệnh tim giai đoạn cuối đồng nghĩa với việc chờ có quả tim thích hợp để ghép tim, thay tim, còn nếu không có thì là chờ ngày ra đi vĩnh viễn. Như vậy, bệnh nhân ngoài đau đớn về mặt thể chất thì còn đau đớn về mặt tinh thần vì phải đối diện với cái chết, xa người thân, cảm giác làm phiền người thân, đó là chưa kể đến gánh nặng kinh tế để điều trị bệnh giai đoạn này, ra vào bệnh viện thường xuyên thậm chí xem bệnh viện là nhà. Cách tốt nhất để giúp bệnh nhân sống thoải mái hơn là phụ thuộc vào người thân nhiều hơn là bác sĩ. Bác sĩ sẽ kê các thuốc hỗ trợ cho bệnh nhân, nhưng chính người thân sẽ là người hỗ trợ và chăm sóc bệnh nhân trong sinh hoạt hàng ngày, nói chuyện để bệnh nhân vui vẻ hơn. Đa phần, niềm tin vào tôn giáo, sẵn sàng đối diện với cái chết và học cách buông bỏ (theo triết lý tôn giáo) của cả người thân và người bệnh, thái độ vui vẻ nhẹ nhàng trong thời gian chăm sóc cho người bệnh của thân nhân chính là cách giúp người bệnh sống tích cực hơn trong giai đoạn cuối này.

9. Biện pháp nào giúp bảo vệ trái tim luôn khỏe mạnh?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời: Những biện pháp giúp trái tim luôn khỏe mạnh đó chính là tuân thủ lối sống lành mạnh: – Đây là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng tránh các bệnh lý tim mạch – Ngưng hút thuốc lá, tránh hút thuốc lá thụ động – Thể dục thường xuyên, tối thiểu 30 – 45 phút mỗi ngày, các ngày trong tuần. Có thể đi bộ, chạy bộ, chạy xe đạp, bơi lội, đánh cầu lông, bóng bàn, đánh golf, tập yoga, thể dục nhịp điệu, thiền,.. tùy theo tình trạng sức khỏe mỗi người; – Tránh căng thẳng trong cuộc sống và công việc. – Giảm cân nếu dư cân, béo phì (khi BMI >23): đặt mục tiêu giảm từ 5% đến 7% cân nặng trong vòng mỗi 6 tháng đến khi đạt cân nặng lý tưởng (BMI từ 18 – 22) – Chế độ ăn tốt cho tim mạch:

    • Ăn ít chất béo, thịt mỡ, chất bột đường, thực phẩm đóng hộp, thức ăn nhanh, hạn chế muối, giảm rượu bia.
    • Nên ăn cá, thịt gia cầm; nên ăn nhiều trái cây, rau, củ, quả, hạt, thực phẩm tươi sống, organic.

Điều trị tốt các bệnh lý đi kèm: – Kiểm soát lượng đường trong máu nếu bạn có đái tháo đường – Điều trị ổn định huyết áp và mỡ máu – Nhận biết sớm chứng rối loạn lo âu của bản thân và tìm đến chuyên gia để điều trị sớm nếu bệnh có chiều hướng vượt khả năng kiểm soát bằng các phương pháp thông thường. Tầm soát bệnh lý tim mạch định kỳ mỗi năm từ năm 20 tuổi.

Benhdotquy.net

Uống đủ nước có vai trò gì trong phòng ngừa đột quỵ?

Uống đủ nước có vai trò gì trong phòng ngừa đột quỵ?

Nước chiếm khoảng 60–70% trọng lượng cơ thể và tham gia vào hầu hết các quá trình sinh lý quan trọng. Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận thức đầy đủ rằng việc uống đủ nước mỗi ngày có thể góp phần giảm nguy cơ đột quỵ – một trong những nguyên nhân gây tử vong và tàn phế hàng đầu hiện nay.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ