Đột quỵ ở trẻ sơ sinh, làm sao phòng ngừa?

Phần lớn chúng ta đều cho rằng đột là căn bệnh của tuổi già. Song, ngay cả trẻ sơ sinh cũng có thể bị đột quỵ. Thống kê cho thấy trẻ thường bị đột quỵ trong 28 ngày đầu tiên sau khi sinh.

04-04-2022 13:40
Theo dõi trên |

1. Đột quỵ ở trẻ sơ sinh là gì?

Đột quỵ (tai biến mạch máu não) xảy ra khi việc cung cấp máu lên một phần bộ não bị ngừng trệ đột ngột gây tổn thương não nghiêm trọng.

Đột quỵ ở trẻ sơ sinh thường được chia thành 2 dạng chính, gồm: đột quỵ nhồi máu não (hay còn gọi là đột quỵ thiếu máu não cục bộ) và đột quỵ xuất huyết não.

Trong đó, đột quỵ nhồi máu não xảy ra khi dòng máu đến não giảm đi, thường do nguyên nhân một cục máu đông (còn được gọi là huyết khối) gây tắc nghẽn một trong các mạch máu ở não.

Nhiều người lầm tưởng đột quỵ chỉ xảy ra ở người cao tuổi nhưng thực tế trẻ sơ sinh cũng có nguy cơ bị đột quỵ.

Nhiều người lầm tưởng đột quỵ chỉ xảy ra ở người cao tuổi nhưng thực tế trẻ sơ sinh cũng có nguy cơ bị đột quỵ.

Theo đó, có hai loại đột quỵ thiếu máu cục bộ xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh, bao gồm: huyết khối trong tĩnh mạch não, xảy ra khi có một cục máu đông trong một trong các tĩnh mạch ở não và đột quỵ thiếu máu cục bộ não ở động mạch não xảy ra khi có cục máu đông nằm trong động mạch ở não gây tắc nghẽn.

Đột quỵ xuất huyết não xảy ra khi một mạch máu trong não hoặc gần não vỡ, gây chảy máu trong não.

2. Có mấy loại đột quỵ ở trẻ sơ sinh?

Các thống kê đã chỉ ra rằng, trẻ mới được sinh ra có tỷ lệ đột quỵ cao hơn rất nhiều so với em bé ở độ tuổi mới biết đi và trẻ lớn.

Cụ thể, có hơn 6000 trẻ sơ sinh bị huyết khối trong tĩnh mạch não, hơn 4000 trẻ sơ sinh bị đột quỵ thiếu máu cục bộ ở động mạch não và hơn 4000 trẻ sơ sinh bị đột quỵ xuất huyết não mỗi năm.

Các nghiên cứu cũng cho thấy, sau khi trải qua giai đoạn sơ sinh, nguy cơ đột quỵ giảm xuống đáng kể, và giảm thấp theo thời gian cho đến tuổi già.

>>> Xem thêm: Bạn biết gì về đột quỵ bán cầu não trái?

3. Nguyên nhân gây đột quỵ ở trẻ sơ sinh?

Thông thường, ở giai đoạn mang thai, protein của người mẹ sẽ đi qua nhau thai từ mẹ sang bào thai, giúp giảm nguy cơ chảy máu. Tuy nhiên, chính điều này vô tình khiến thai nhi có khả năng cao bị đông máu, làm tăng nguy cơ đột quỵ. Không chỉ vậy, đôi khi huyết khối còn có thể hình thành trong nhau thai và lưu thông trong máu của thai nhi. Khi đó, các cục máu đông này có thể đi đến não của thai và gây ra một cơn đột quỵ.

Bên cạnh đó, trẻ sơ sinh cũng có khả năng bị đột quỵ trong thời gian thai phụ đau đẻ và sinh con. Bởi quá trình sinh nở có thể tạo ra một áp lực lớn lên đầu của em bé. Chính áp lực trong các động mạch và tĩnh mạch ở đầu của em bé có thể làm hình thành cục máu đông và gây đột quỵ cho trẻ mới sinh.

Một điều mà ít ai biết đến đó là trẻ mới chào đời có mật độ tế bào máu dày đặt hơn so với người trưởng thành, có thể gấp đôi số lượng tế bào máu. Cũng chính vì lý do này mà trẻ em mới sinh có nhiều nguy cơ bị đột quỵ hơn cả. Do đó, trong vài ngày đầu tiên sau khi sinh, trẻ cần được bổ sung đủ lượng nước cần thiết bởi tình trạng mất nước khiến trẻ dễ hình thành các cục máu đông dẫn đến đột quỵ.

Trẻ mới sinh nếu bị mất nước sẽ có nguy cơ cao hình thành cục máu đông

Trẻ mới sinh nếu bị mất nước sẽ có nguy cơ cao hình thành cục máu đông

4. Các triệu chứng của đột quỵ ở trẻ sơ sinh là gì?

Đa số đột quỵ ở trẻ sơ sinh thường không có các có các triệu chứng lâm sàng, thường không được chuẩn đoán và không điều trị sớm cho đến khi em bé lớn tuổi hơn.

Các triệu chứng đột quỵ thường gặp ở trẻ lớn cũng khá tương đồng với triệu chứng ở người lớn, chẳng hạn như khó nói, méo miệng, liệt nửa người, hoặc mất khả năng giữ thăng bằng. Thông thường, rất khó hoặc không thể phát hiện các triệu chứng đột quỵ ở trẻ sơ sinh.

Trong số trẻ sơ sinh không có các triệu chứng của đột quỵ, phần lớn trẻ bị động kinh. Theo đó, tình trạng động kinh là cách dễ nhất để nhận biết dấu hiệu của đột quỵ ở nhóm trẻ mới chào đời.

Động kinh là dấu hiệu dễ nhận biết nhất giúp phụ huynh phát hiện con bị đột quỵ.

Động kinh là dấu hiệu dễ nhận biết nhất giúp phụ huynh phát hiện con bị đột quỵ

Biểu hiện của động kinh cũng khá khó để nhận ra. Vì vậy, các bậc phụ huynh cần hết sức chú ý trẻ ở giai đoạn này. Chúng ta có thể dựa vào một số dấu hiệu sau để nhận biết trẻ có đang động kinh hay không:

– Co giật nhanh và đơn lẻ ở một cánh tay hoặc chân, đôi khi co giật toàn bộ cơ thể.

– Xuất hiện tình trạng co giật liên tục ở cơ mặt, lưỡi hoặc các vùng khác.

– Trẻ lặp đi lặp lại các chuyển động trên khuôn mặt, bao gồm cả động tác bú, nhai, hoặc chuyển động mắt.

– Trẻ có thể đạp chân bất thường.

– Trẻ nhìn chằm chằm.

– Có thể cơ bị co thắt hoặc đơ cứng.

– Trẻ có thể bị ngưng thở do nhịp tim chậm.

Thông thường, chúng ta có thể dễ dàng nhận diện được triệu chứng liệt nửa người ở người lớn – một triệu chứng chính của đột quỵ ở người lớn. Tuy nhiên, do bộ não trẻ mới sinh còn quá non nớt nên tình trạng này có thể không xuất hiện ở trẻ sơ sinh khi bị đột quỵ. Các nghiên cứu cho thấy có khoảng 15% trẻ sơ sinh bị đột quỵ chuyển động ít hơn ở một bên người. Theo đó, biểu hiện liệt nửa người sẽ dễ dàng nhận ra hơn khi em bé lớn hơn.

Trẻ biểu hiện rõ mình thuận tay nào hơn ở độ tuổi từ 6 tuần tuổi đến 6 tháng tuổi cũng là một dấu hiệu của đột quỵ. Cụ thể, các bé có thể thuận tay trái hoặc tay phải hơn và có xu hướng dùng bàn tay đó nhiều hơn. Nhiều phụ huynh thường hiểu nhầm rằng đây là biểu hiện khi con mình lớn nhanh. Song, thực tế “thuận tay” có thể là một dấu hiệu của đột quỵ. Bởi ở các em bé khỏe mạnh, khuynh hướng chỉ dùng một tay thường không xuất hiện cho đến khoảng 12 tháng tuổi.

5. Các yếu tố gây nguy cơ đột quỵ ở trẻ sơ sinh

Một số yếu tố có thể gây ra các nguy cơ đột quỵ cao ở trẻ sơ sinh gồm:

– Trẻ có dị tật bẩm sinh: Nếu trẻ sơ sinh có dị tật bẩm sinh bị một lỗ thông trong tim, các cục máu đông dễ dàng đi qua từ các bộ phận khác của cơ thể, thông qua tim, và lên đến não.

– Gia đình có tiền sử đông máu: Nếu gia đình có tiền sử bị các bệnh đông máu, nguy cơ đột quỵ ở trẻ sơ sinh sẽ cao hơn.

– Nhiễm trùng nặng: Các trường hợp nhiễm trùng nặng như nhiễm trùng máu và viêm màng não cũng có thể dẫn đến đông máu.

– Trẻ bị mất nước trong giai đoạn đầu khi mới chào đời.

– Áp lực tạo ra lên đầu trẻ trong quá trình sinh nở.

6. Chẩn đoán đột quỵ ở trẻ sơ sinh

Đột quỵ có thể được chẩn đoán khi em bé vẫn còn trong bụng mẹ. Đột quỵ có thể được phát hiện khi mẹ bầu khám thai và bác sĩ nghi ngờ em bé có một dị tật bẩm sinh nào đó. Lúc này, thai phụ sẽ được bác sĩ chỉ định chụp cộng hưởng từ cho thai nhi (chụp MRI). Đây là một phương pháp vô cùng hiệu quả giúp bác sĩ phát hiện đột quỵ ở thai nhi.

Trong một số trường hợp, bệnh có thể được phát hiện bằng phương pháp siêu âm thông thường khi bà mẹ khám thai định kỳ nếu em bé bị đột quỵ rất nặng. Theo đó, khi được sinh ra, trẻ sẽ được chụp não một lần nữa để xác nhận lại chẩn đoán.

Nếu trẻ bị đột quỵ nặng, bác sĩ có thể phát hiện bằng phương pháp siêu âm thai thông thường

Nếu trẻ bị đột quỵ nặng, bác sĩ có thể phát hiện bằng phương pháp siêu âm thai thông thường

Thông thường, tất cả các trẻ sơ sinh bị co giật nên được siêu âm và chụp cắt lớp CT ở đầu. Bên cạnh đó, trẻ cũng nên chụp cộng hưởng từ MRI bởi phương pháp này giúp phát hiện bệnh tốt hơn. Song, bất kỳ dấu hiệu bệnh đột quỵ nào cũng sẽ được phát hiện trên CT.

Theo đó, biện pháp lý tưởng nhất để chuẩn đoán đột quỵ là chụp MRI đầu tiên, sau đó thực hiện các xét nghiệm khác như Arteriogram não, còn gọi là chụp mạch não (MRA) và chụp tĩnh mạch trên MRI (MR venogram/MRV), để xem xét kỹ hơn các mạch máu trong não.

>>> Xem thêm các bài viết khác có cùng chủ đề tại: https://benhdotquy.netcategory/tim-hieu-ve-dot-quy/

7. Làm sao để ngừa đột quỵ ở trẻ sơ sinh?

Để phòng ngừa đột quỵ cho con trẻ, chúng đảm bảo rằng thai nhi nhận được lưu lượng máu khỏe mạnh khi ở trong bụng mẹ.

Cụ thể, các mẹ bầu nên ăn uống lành mạnh, tuyệt đối không hút thuốc lá hoặc hút thuốc lá thụ động. Đặc biệt, mẹ nên tránh tình trạng bị mất nước vì điều này có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ cho thai nhi.

Mẹ bầu uống nước đầy đủ là cách giúp thai nhi tránh bị mất nước, làm giảm nguy cơ hình thành cục máu đông

Mẹ bầu uống nước đầy đủ là cách giúp thai nhi tránh bị mất nước, làm giảm nguy cơ hình thành cục máu đông

Nếu mẹ bầu có tiền sử gia đình hoặc tiểu sử đã từng bị rối loạn đông máu thì nên kiểm tra xem liệu thai phụ này có bị bệnh di truyền có liên quan đến yếu tố V Leiden có thể dẫn đến đông máu cho em bé nằm trong bụng hay không.

Trong quá trình thăm khám, nếu phát hiện thai nhi có nguy cơ bị đông máu, các bác sĩ có thể thực hiện các bước điều trị cần thiết.

Trường hợp trẻ có quá nhiều tế bào hồng cầu gây ra bởi các tác nhân trong quá trình mang thai thì khi sinh ra trẻ có thể dễ hình thành các cục máu đông trong người. Đôi khi, chúng ta có thể ngăn chặn nguy cơ xảy ra đột quỵ ở trẻ sơ sinh bằng cách cho trẻ thay máu máu từng phần bằng máu được pha loãng với nước muối.

Như đã đề cập, khi một em bé mới chào đời, tình trạng mất nước có thể làm hình thành cục máu đông trong người trẻ. Do đó, khi phát hiện trẻ có biểu hiện của tình trạng mất nước, các bậc cha mẹ cần đưa trẻ đến khám bác sĩ ngay. Một số dấu hiệu giúp phụ huynh nhận biết trẻ bị mất nước như:

– Khô miệng, khô môi. – Da khô. – Ít khóc hoặc không khóc. – Mắt trẻ trũng sâu. – Thay tã ướt ít hơn sáu lần mỗi ngày. – Phần ‘điểm mềm’ ở đỉnh đầu của bé bị hóp lại.

Anh Thi – benhdotquy.net

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Một gói thuốc được quảng cáo “chống đột quỵ cấp tốc”, vài lời truyền miệng trên mạng xã hội và niềm tin rằng có thể “câu giờ” trước khi đến bệnh viện – tất cả đang tạo nên một xu hướng nguy hiểm: người nhà tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc đột quỵ ngay tại nhà hoặc thậm chí ngay trong phòng cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, hành động tưởng như cứu người này có thể khiến bệnh nhân mất cơ hội sống.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ