Các loại đau sau đột quỵ, giải quyết thế nào?

Ngoài di chứng yếu liệt chi hay nửa người, bệnh nhân đột quỵ còn có thể gặp nhiều kiểu đau khác nhau do tổn thương não gây ra, chẳng hạn như: đau đầu, đau trung ương, đau vai, đau phức hợp, đau do co cứng,… Vậy làm thế nào để khắc phục những cơn đau này?

25-05-2022 13:57
Theo dõi trên |

Đau sau đột quỵ được khái niệm là các cơn rối loạn đau xảy ra ở những bệnh nhân sau đột quỵ. Đau sau đột quỵ có nhiều hình thái lâm sàng khác nhau, chẳng hạn như: đau đầu, đau phức hợp vùng, đau trung ương, đau vai, đau do co cứng cơ,…

Các chuyên gia đột quỵ cho biết, các nguyên nhân gây ra tình trạng đau sau đột quỵ có thể do nhiều cơ chế gây nên, chẳng hạn như:

– Liên quan đến các tổn thương cấu trúc não, đường dẫn truyền do đột quỵ.

– Sự thay đổi các chất trung gian hóa học, chất dẫn truyền thần kinh.

– Các cơ chế tổn thương thứ phát tại các chi thể sau đột quỵ…

Đau sau đột quỵ là tình trạng khá phổ biến gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Do đó, việc nhận biết và quan tâm đúng mức các vấn đề này sẽ giúp hạn chế  các di chứng đau hành hạ bệnh nhân. Dưới đây là một số loại đau có thể xảy ra ở bệnh nhân sau đột quỵ.

1. Đau đầu 

Đau đầu thường xảy ra ở những bệnh nhân bị đột quỵ xuất huyết não não. Cơn đau này có thể xảy ra ngay sau khi bệnh nhân bị xuất huyết não. Đặc biệt, biểu hiện này còn có thể kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm sau khi bệnh nhân đã điều trị khỏi đột quỵ, nhất là vào những lúc thời tiết thay đổi.

Cơn đau đầu sau đột quỵ có thể kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm sau khi bệnh nhân đã điều trị khỏi đột quỵ, nhất là vào những lúc thời tiết thay đổi.Cơn đau đầu sau đột quỵ có thể kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm sau khi bệnh nhân đã điều trị khỏi đột quỵ, nhất là vào những lúc thời tiết thay đổi.

1.1. Cơ chế gây đau đầu sau đột quỵ

Các chuyên gia cho hay, có rất nhiều cơ chế gây đau đầu cho bệnh nhân, chẳng hạn như:

– Tăng áp lực nội sọ do khối máu tụ gây nên.

– Phù não tăng lên.

– Do kích thích màng não hoặc các dây thần kinh, gây nên các rối loạn vận mạch.

Đặc biệt, ngay cả khi bệnh nhân không còn tình trạng tăng áp lực nội sọ, bệnh nhân vẫn có có thể xuất hiện cơn đau đầu với tính chất và cường độ có thể thay đổi. Các bác sĩ giải thích, nguyên nhân gây nên đau đầu trong giai đoạn này là do:

– Rối loạn vận mạch, các xung đột thần kinh.

– Sự thay đổi các chất trung gian hóa học.

– Một số có các hoạt động điện kịch phát của tế bào não biểu hiện trên điện não đồ là các phức bộ sóng dạng động kinh mặc dù trên lâm sàng không có các biểu hiện dạng cơ động kinh.

»»» Xem thêm: Đau đầu, buồn nôn và ói mửa: Cảnh giác với tụ máu dưới màng cứng

1.2. Điều trị đau đầu sau xuất huyết não

Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân bị đau đầu do tăng áp lực nội sọ, khối máu tụ lớn gây chèn ép não. Vì vậy, việc điều trị cơn đau đầu lúc này sẽ bao gồm:

– Chống phù não.

– Giảm đau trung ương.

– Sử dụng thuốc chống động kinh.

– Sử dụng thuốc chống co thắt mạch

– Mở sọ lấy máu tụ

– Dẫn lưu não thất.

Trong giai đoạn sau khi tình trạng tăng áp lực nội sọ không còn, nếu bệnh nhân thường bị đau đầu giai dẳng thì các bác sĩ có thể chỉ định người bệnh sử dụng một số thuốc như:

– Thuốc giảm đau thần kinh.

– Thuốc chống động kinh.

– Thuốc chống co thắt mạch.

2. Đau trung ương 

Bệnh nhân bị đau trung ương sau đột quỵ thường có biểu hiện lâm sàng đau thần kinh ở một phần trên cơ thể, chẳng hạn như: mặt, tay, chân, thân người…

Theo đó, vùng tổn thương phải phù hợp với cấu trúc não, đường dẫn truyền chi phối.

Đau trung ương sau đột quỵ thường có biểu hiện lâm sàng đau thần kinh ở một phần trên cơ thể, chẳng hạn như: mặt, tay, chân, thân người...Đau trung ương sau đột quỵ thường có biểu hiện lâm sàng đau thần kinh ở một phần trên cơ thể, chẳng hạn như: mặt, tay, chân, thân người…

2.1. Nguyên nhân gây đau trung ương

Một số nguyên nhân gây ra tình trạng đau trung ương bao gồm:

– Tổn thương các cấu trúc giải  phẫu quan trọng của đường dẫn truyền cảm giác như: đồi thị và thùy đỉnh, các cấu trúc dưới vỏ não, thân não, tủy sống…

– Vai trò của một số chất trung gian hóa học như serotonin.

2.2. Biểu hiện của đau trung ương

Triệu chứng đau trung ương có rất nhiều hình thái biểu hiện cảm giác đau như:

– Đau kiểu bỏng rát.

– Lạnh buốt.

– Đau dạng châm chích.

– Đau kiểu kiến bò.

– Đau kiểu điện giật…

Các cơn đau này thường xuất hiện trên nửa người bên đối diện với tổn thương não.

Đáng chú ý hơn cả, trong một số trường hợp nặng, bệnh nhân có thêm yếu tố trầm cảm, loạn thần thì có thể xuất hiện trên cả tứ chi gây khó khăn trong việc chẩn đoán chính xác.

Người bệnh đột quỵ nếu bị đau trung ương thường sẽ gặp khó khăn trong sinh hoạt, cảm giác đau còn có thể dẫn đến nhiều hệ luỵ, chẳng hạn như:

– Mất ngủ

– Tính tình cáu gắt

– Trầm cảm

– Loạn thần.

2.3. Điều trị đau trung ương

Các chuyên gia đánh giá, việc điều trị đau trung ương sau đột quỵ là một vấn đề thực sự khó và kéo dài.

Nhìn chung, hầu hết các thuốc giảm đau thông thường đều không có tác dụng trong trường hợp này. Do đó, các bác sĩ có thể chỉ định bệnh nhân dùng một số loại thuốc như:

– Nhóm thuốc chống trầm cảm 3 vòng, chẳng hạn như Amitryptilin.

– Thuốc chống động kinh: lamotrin, pregabalin, carbamazepin, Gabapentin…

– Trong trường hợp bệnh nhân có thêm yếu tố ảo giác cần phải sử dụng Olanzapine mới có thể giúp người bệnh giảm được khó chịu và cảm thấy thoải mái.

Song, đa số các bệnh nhân đều phải phụ thuộc kéo dài bằng các thuốc trên nếu dừng sớm các thuốc trên sau một vài tháng sử dụng bệnh lại xu hướng tái phát trở lại.

»»» Xem thêm: Mối quan hệ giữa chứng đau nửa đầu và đột quỵ là gì?

3. Đau phức hợp vùng 

Đau phức hợp vùng là một chứng đau rất đặc biệt và phức tạp. Tình trạng này thường gặp ở những bệnh nhân có chấn thương chi thể hay có tổn thương mạch máu, thần kinh kèm theo.

Đau phức hợp vùng thường gặp ở những bệnh nhân có chấn thương chi thể hay có tổn thương mạch máu, thần kinh kèm theo. Đau phức hợp vùng thường gặp ở những bệnh nhân có chấn thương chi thể hay có tổn thương mạch máu, thần kinh kèm theo. 

3.1. Cơ chế gây đau phức hợp vùng

Đau phức hợp vùng có cơ chế khá phức tạp, đôi khi khó giải thích trên từng bệnh nhân.

Chứng đau phức hợp vùng thường không liên quan đến tổn thương trung ương. Bệnh nhân đột quỵ có thể gặp biểu hiện này nhưng thường là tổn thương thứ phát do di chứng rối loạn vận động, cảm giác, phản xạ, trương lực cơ sau đột quỵ… gây nên liệt cứng, tổn thương các khớp thứ phát, co rút cơ và hạn chế lưu thông máu tĩnh mạch về tim … dẫn đến tình trạng đau phức hợp vùng.

Cơ chế của đau phức hợp vùng thường phức tạp và được chia thành 2 loại:

– Đau phức hợp vùng typ 1: liên quan đến tổn thương mạch máu biểu hiện bởi co thắt mạch, giãn mạch, phù mạch và thường được giải thích có liên quan đến hoạt động thần kinh giao cảm.

– Đau phức hợp vùng typ 2:  các bệnh nhân có chứng đau bỏng buốt  nhưng biến đổi về da ít hơn thường liên quan đến tổn thương thần kinh tại chỗ do các tổn thương ngoại vi. Theo đó, việc gửi các xung động thần kinh cảm giác đau liên tục về trung ương, cũng như việc khuyết đại cường độ đau, còn có thể tham gia của các khuyết tật cấu trúc thần kinh trung ương (hệ thống đồi thị và đường liên hệ vỏ não).

Các chuyên gia đột quỵ cho biết, vai trò của tổn thương trung ương giúp giải thích được các tình trạng đau phức hợp vùng liên quan đến tổn thương não và tủy sống như trong bệnh lý đột quỵ.

3.2. Biểu hiện của đau phức hợp vùng

Người ta thấy rằng các biểu hiện lâm sàng của chứng đau phức hợp vùng khá đa dạng và phong phú. Một số triệu chứng nổi bật có thể kể đến như:

– Biến đổi mạch máu vùng tay tổn thương: thường biến đổi về màu sắc da, biến đổi nhiệt độ, tay hoặc chân bị phù nề do giãn mạch giai đoạn sau lại co mạch gây nên bàn tay lạnh tái nhợt…

– Đau tại bàn tay, cẳng tay, bàn chân, cẳng chân tại vùng bị tổn thương: đau với  cường độ dữ dội, đau bỏng buốt, tăng cảm đau, dị cảm đau, thường rất nhạy cảm với các kích thích cảm giác xúc giác, nhiệt độ…

– Biến đổi chức năng vận động chi thể: thường vùng chi thể tổn thương sẽ bị hạn chế vận động như yếu cơ, loạn trương lực cơ

– Rối loạn tiết mồ hôi ở chi thể thường ở dạng tăng tiết…

3.3. Điều trị đau phức hợp vùng

Hiện nay, việc điều trị đau phức hợp vùng vẫn còn là một thách thức với y khoa. Theo đó, để điều trị cho bệnh nhân bị đau phức hợp vùng sau đột quỵ, đòi hỏi phải phối hợp nhiều biện pháp như:

– Vật lý trị liệu,

– Phục hồi chức năng,

– Châm cứu,

– Dùng thuốc giảm đau,

– Dùng thuốc chống trầm cảm,

– Dùng thuốc chống động kinh hoặc n hóm thuốc giảm đau gây nghiện,

– Phong bế thần kinh,

– Tiêm bottox,

– Các phẫu thuật hủy giao cảm,

– Sử dụng máy kích thích não, tủy sống…

»»» Xem thêm: Những phương pháp điều trị đột quỵ tiên tiến hiện nay

4. Đau do co cứng cơ

4.1. Nguyên nhân gây đau do co cứng cơ

Sau đột quỵ, tình trạng co cứng cơ có thể dẫn đến các khớp thuộc chi đó bị cứng lại, một số cơ gấp ở tay tổn thương bị tăng trương lực cơ quá mức gây đau nhiều. Tình trạng này xảy ra do các chi thể bên tổn thương bị liệt trung ương nên sẽ bị tăng trương lực cơ. Ngoài ra, đau do co cứng cơ còn có thể dẫn đến hạn chế vận động của khớp kèm theo và biến dạng trục của chi thể.

Co cứng cơ sau đột quỵ xảy ra do các chi thể bên tổn thương bị liệt trung ương nên sẽ bị tăng trương lực cơ.Co cứng cơ sau đột quỵ xảy ra do các chi thể bên tổn thương bị liệt trung ương nên sẽ bị tăng trương lực cơ.

4.2. Điều trị đau do co cứng cơ

Để làm giảm đau trong trường hợp do co cứng co sau đột quỵ, bệnh nhân cần được làm giảm tình trạng co cứng cơ cục bộ. Theo đó, các bác sĩ có thể yêu cầu bệnh nhân áp dụng một số phương pháp điều trị như:

– Sử dụng một số thuốc như: tiêm botox, dùng mydocalm, baclofen…

– Tập luyện các biện pháp vật lý trị liệu và phục hồi chức năng giai đoạn sớm. Điều này sẽ giúp người bệnh hạn chế được tình trạng co cứng, lệch trục chi do đó có tác dụng làm giảm đau do co cứng;

»»» Xem thêm: Phương pháp điều trị cho từng loại đột quỵ

5. Đau vai 

Đau vai được định nghĩa tình trạng đau thứ cấp. Cơn đau này thường xuất hiện sau khi bệnh nhân bị đột quỵ có liệt tay mức độ trung bình và nặng trở lên tương ứng với các nhóm sức cơ từ 0/5; 1/5; 2/5.

Cơn đau vai thường xuất hiện sau khi bệnh nhân bị đột quỵ có liệt tay mức độ trung bình và nặng trở lên.Cơn đau vai thường xuất hiện sau khi bệnh nhân bị đột quỵ có liệt tay mức độ trung bình và nặng trở lên.

5.1. Cơ chế gây đau vai

Người ta thấy rằng, có rất nhiều cơ chế gây cơ chế của đau vai sau đột quỵ, bao gồm:

– Sức nặng của chi thể bên liệt gây tổn thương dây chằng và gây bán sai khớp vai.

– Co cứng cơ gây cứng và hạn chế vận động khớp vai.

– Viêm quanh khớp vai.

– Nằm không đúng tư thế trong giai đoạn nặng bệnh nhân nằm hồi sức khiến khớp vai bị sai, cứng, lệch trục…

5.2. Điều trị đau vai sau đột quỵ

Để điều trị đau khớp vai, bác sĩ sẽ dựa theo cơ chế gây bệnh. Thông thường, bệnh nhân đột quỵ sẽ được đeo đai vai nhằm hạn chế tổn thương khớp vai thứ phát. Điều này giúp phòng ngừa tình trạng bệnh nhân bị đau vai sau đột quỵ.

Bên cạnh đó, trong một số trường hợp bệnh nhân vẫn cần phải được can thiệp bằng các nhóm thuốc như:

– Giảm đau,

– Chống viêm,

– Tiêm corticoid tại chỗ,

– Tập vật lý trị liệu và phục hồi chức năng …

Anh Thi – Benhdotquy.net

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Một gói thuốc được quảng cáo “chống đột quỵ cấp tốc”, vài lời truyền miệng trên mạng xã hội và niềm tin rằng có thể “câu giờ” trước khi đến bệnh viện – tất cả đang tạo nên một xu hướng nguy hiểm: người nhà tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc đột quỵ ngay tại nhà hoặc thậm chí ngay trong phòng cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, hành động tưởng như cứu người này có thể khiến bệnh nhân mất cơ hội sống.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ