Biến chứng đông máu do COVID-19 nguy hiểm thế nào? Làm sao để giảm nguy cơ?
Bên cạnh các bệnh lý về huyết khối, COVID-19 cũng có thể gây ra tình trạng đông máu làm tắc phổi bệnh nhân, gây ra cơn đau tim, đột quỵ, thậm chí tăng nguy cơ tử vong.
Mục lục
I. Tình trạng đông máu là gì?
Đông máu là phản ứng của cơ thể nhằm ngăn chảy máu thêm. Quá trình đặc biệt quan trọng trong các trường hợp như: giúp chữa lành vết thương, cầm máu. Máu được cầm bởi cục máu đông có chứa tiểu cầu và sợi huyết, khi thành mạch máu bị tổn thương. Tuy nhiên, nếu cục máu đông gây cản trở máu đến các vùng quan trọng trong cơ thể như tim, phổi hoặc thận thì có thể gây nguy hiểm, thậm chí tử vong.
II. Nguyên nhân gây ra biến chứng đông máu
1. Tình trạng đông máu xảy ra do mắc COVID-19
Hiện nay, COVID-19 ngày càng diễn tiến phức tạp, gây lo ngại cho nhiều người, bởi căn bệnh nguy hiểm này có thể gây ra tình trạng đông máu, dẫn đến tử vong nhanh hơn. COVID-19 là bệnh do virus Sars-CoV-2 gây ra, làm cho phổi của người bệnh bị viêm. Tuy nhiên, bên cạnh những hậu quả ảnh hưởng đến phổi, các nghiên cứu còn chỉ ra những thay đổi của tiểu cầu trong máu ở những người bị nhiễm COVID-19 có thể gây đau tim và đột quỵ. Cụ thể, các protein gây viêm tạo ra trong quá trình nhiễm bệnh làm có thể làm thay đổi chức năng của tiểu cầu, khiến chúng vận động nhiều hơn và dễ hình thành các cục máu đông hơn. Bên cạnh đó, tình trạng viêm và những thay đổi toàn thân do nhiễm trùng khiến tiểu cầu kết tụ nhanh hơn. Đây cũng chính là lý do khiến số lượng cục máu đông tăng lên ở bệnh nhân COVID-19. Ngoài ra, với những bệnh nhân COVID-19 có kèm theo bệnh lý nền như như tiểu đường, béo phì, tăng huyết áp, bệnh lý tim mạch… thì sẽ làm tăng nguy cơ đông máu và các vấn đề về tim mạch, suy nội tạng.
2. Những bệnh lý khác gây đông máu
Có rất nhiều yếu tố nguy cơ gây ra cục máu đông, trong đó, một số nguyên nhân có liên quan đến bệnh lý. Bao gồm: Rung tâm nhĩ: đây là một dạng rối loạn nhịp tim (tim đập bỏ nhịp hoặc quá nhanh) gây gián đoạn lưu lượng máu. Từ đó dẫn đến hình thành các cục máu đông. Nếu cục máu đông di chuyển đến não có thể dẫn đến đột quỵ. Xơ vữa động mạch: điều này xảy ra khi mỡ máu tích tụ ở thành động mạch. Theo đó, nếu các mảnh xơ vữa động mạch vỡ sẽ hình thành cục máu đông, gây tổn thương cho cơ tim. Trong trường hợp xấu có thể gây nhồi máu cơ tim. Ung thư: việc sử dụng một số thuốc hóa trị khi điều trị ung thư có thể làm tăng nguy cơ đông máu. Đái tháo đường (Tiểu đường): Bệnh lý này tạo ra những thay đổi trong máu khiến máu dễ bị đông hơn. Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ, ước tính có tới 80% người mắc tiểu đường có nguy cơ tử vong do liên quan đến cục máu đông.
III. Các yếu tố làm tăng nguy cơ đông máu
Ngoài những nguyên nhân trên, cục máu đông còn có thể xuất hiện do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như: Phụ nữ mang thai và sau sinh: trong thời gian mang thai, mẹ bầu có thể có số lượng tiểu cầu tăng lên và nhiều yếu tố đông máu khác. Bên cạnh đó, trong trường hợptử cung chèn ép tĩnh mạch có thể làm chậm lưu lượng máu và dẫn đến hình thành cục máu đông. Hút thuốc lá thường xuyên: nếu bạn có thói quen hút thuốc lá thì hãy từ bỏ ngày từ bây giờ. Bởi thói quen xấu này sẽ làm hỏng lớp niêm mạc mạch máu khiến cục máu đông dễ bị tắc nghẽn hơn.
Thừa cân béo phì: nếu bạn đang trong tình trạng béo phì thừa cân cộng,kèm theo lối sống ít vận động hoặc có bệnh lý tiểu đường thì sẽ có nguy cơ đông máu cao. Bởi chất béo tích tụ sẽ làm giảm lưu lượng máu ở tĩnh mạch, tăng tỷ lệ hình thành cục máu đông. Các liệu pháp thay thế hormone (HRT): một số dạng HRT, đặc biệt là dạng có chứa estrogen, có thể làm tăng nguy cơ đông máu.
IV. Làm sao phòng ngừa chứng đông máu?
Chứng đông máu có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào và tỷ lệ rủi ro sẽ cao hơn ở những đối tượng có yếu tố nguy cơ cao như đã nêu ở phần trước. Chính vì vậy, khi thấy bản thân có những biểu hiện nghi ngờ bị đông máu như: đau tức ngực, tim đập nhanh, chóng mặt, cảm giác mất thăng bằng, khó thở, khó nói, yếu hoặc tê ở mặt, cánh tay, chân,… thì nên thăm khám để được phát hiện và điều trị sớm. Bên cạnh đó, việc xây dựng lối sống lành mạnh cũng góp phần giảm nguy cơ hình thành cục máu đông. Chẳng hạn như: – Luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên: bạn có thể đi bộ ít nhất 30 phút mỗi ngày để giúp máu lưu thông ổn định. Hoặc tập bất kỳ môn thể thao yêu nào để tăng cường thể thực, điều này cũng sẽ giúp máu lưu thông dễ dàng hơn.
– Uống đủ nước: việc cung cấp đủ nước cho cơ thể là điều vô cùng cần thiết bởi mất nước cũng có thể dẫn đến đông máu. – Duy trì cân nặng hợp lý: nếu bạn đang trong tình trạng thừa cân béo phì, hay cố gắng luyện tập để giảm xuống mức cân nặng hợp lý, góp phần giảm bớt áp lực lên tĩnh mạch và giảm nguy cơ đông máu.
Anh Thi – Theo kênh AloBacsi.vn
Uống đủ nước có vai trò gì trong phòng ngừa đột quỵ?
Nước chiếm khoảng 60–70% trọng lượng cơ thể và tham gia vào hầu hết các quá trình sinh lý quan trọng. Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận thức đầy đủ rằng việc uống đủ nước mỗi ngày có thể góp phần giảm nguy cơ đột quỵ – một trong những nguyên nhân gây tử vong và tàn phế hàng đầu hiện nay.
Multimedia
Theo dõi trên:Video
Cách bảo vệ tim mạch ngoài việc giảm muối và ăn uống hợp lý
Giảm muối là một trong những bước quan trọng để bảo vệ tim mạch, nhưng chưa phải là tất cả. Bên cạnh chế độ ăn hợp lý, bác sĩ sẽ chia sẻ thêm những thói quen và biện pháp cần thiết giúp trái tim khỏe mạnh, giảm nguy cơ tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Sống sót sau đột quỵ, làm gì để không bị lần 2?
Giới trẻ và đột quỵ: Khi lối sống hiện đại trở thành sát thủ âm thầm
Giải mã mối quan hệ nguy hiểm giữa đái tháo đường và đột quỵ
Phòng Tránh Đột Quỵ – Bắt Đầu Từ 5 Bài Tập Đơn Giản
Ngăn đột quỵ ngay từ phút đầu – Những điều nên biết
7 tình huống khiến đường huyết tăng vọt có thể bạn chưa biết















">
">
"> 
