Bệnh tim mạch và đột quỵ có liên quan gì?
Theo BS.CK1 Cao Thị Lan Hương – bệnh viện Trưng Vương, đột quỵ và bệnh tim mạch có liên quan mật thiết với nhau, đặc biệt là về yếu tố nguy cơ gây bệnh, vì cùng cơ chế chính là bệnh lý của mạch máu. Mời bạn đọc theo dõi nội dung chi tiết dưới đây để hiểu về nguyên nhân, điều trị và cách phòng ngừa 2 “sát thủ” nguy hiểm này.
\nMục lục
\n1. Bệnh tim mạch và đột quỵ là gì?
\nBS.CK1 Cao Thị Lan Hương:
\nBệnh tim mạch (CVD) là bệnh lý của tim và mạch máu. Bệnh tim mạch bao gồm bệnh mạch vành (nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim), tăng huyết áp tăng (cao huyết áp), bệnh động mạch ngoại biên, bệnh van tim, bệnh tim bẩm sinh, suy tim…vàtai biến mạch máu não (đột quỵ).
\nĐột quỵ, còn gọi là tai biến mạch máu não, là tình trạng xảy ra do tắc nghẽn dòng máu nuôi lên não do huyết khối chèn ép cản trở mạch máu hoặc do rò, vỡ mạch máu gây xuất huyết. Mặc dù đột quỵ là bệnh xảy ra ở não, nhưng bản chất là bệnh lý của mạch máu của não, cho nên vẫn thuộc về nhóm bệnh tim mạch (tim và mạch).
\n2. Đột quỵ có bao nhiêu loại?
\nBS.CK1 Cao Thị Lan Hương:
\nCó 2 loại đột quỵ là đột quỵ do thiếu máu và đột quỵ do xuất huyết.
\n– Đột quỵ do thiếu máu cục bộ: Chiếm khoảng 85% tổng số các ca bị đột quỵ hiện nay. Đây là tình trạng đột quỵ do các cục máu đông làm tắc nghẽn động mạch, cản trở quá trình máu lưu thông lên não.
\nTrong đột quỵ do thiếu máu cục bộ, lượng máu cung cấp cho một phần não bị giảm, dẫn đến rối loạn chức năng của mô não ở khu vực đó. Có bốn lý do tại sao điều này có thể xảy ra:
\n- \n
- Huyết khối (tắc nghẽn động mạch não do cục máu đông hình thành từ mảng xơ vữa trong lòng mạch) \n
- Thuyên tắc mạch (tắc nghẽn động mạch não do cục máu đông đến từ nơi khác trong cơ thể) \n
- Giảm tưới máu toàn thân (giảm cung cấp máu nói chung, ví dụ như sốc, suy tim) \n
- Huyết khối xoang tĩnh mạch não. \n
– Đột quỵ do xuất huyết, hay còn gọi là xuất huyết não: Đột quỵ do xuất huyết là tình trạng mạch máu đến não bị vỡ khiến máu chảy ồ ạt gây xuất huyết não. Có hai loại đột quỵ xuất huyết chính:
\n- \n
- Xuất huyết trong não, về cơ bản là chảy máu trong chính não (khi một động mạch não bị vỡ, tràn máu vào các mô xung quanh), do xuất huyết trong nhu mô (chảy máu trong mô não) hoặc xuất huyết não thất (chảy máu trong hệ thống não thất của não). \n
- Xuất huyết dưới nhện, về cơ bản là chảy máu xảy ra bên ngoài mô não nhưng vẫn trong hộp sọ, và chính xác là giữa màng nhện và màng mềm (lớp trong cùng mỏng manh của ba lớp màng não bao quanh não). \n
Ngoài ra, người bệnh có thể gặp phải cơn thiếu máu não thoáng qua. Đây là tình trạng dòng máu cung cấp cho não bộ bị giảm tạm thời. Người bệnh có những triệu chứng của đột quỵ nhưng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, từ vài phút đến vài giờ, nhưng giới hạn là 24 giờ thì các triệu chứng đột quỵ sẽ mất đi.
\n
Bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân dẫn tới đột quỵ.
3. Dấu hiệu nào để nhận biết một người đang bị đột quỵ?
\nBS.CK1 Cao Thị Lan Hương:
\nCác triệu chứng đột quỵ thường bắt đầu đột ngột, trong vài giây đến vài phút và trong hầu hết các trường hợp không tiến triển thêm. Các triệu chứng phụ thuộc vào vùng não bị ảnh hưởng. Vùng não bị ảnh hưởng càng rộng thì càng có nhiều chức năng dễ bị mất. Triệu chứng đột quỵ thường gặp là:
\n- \n
- Méo miệng, khó phát âm hoặc phát âm không đúng. \n
- Cảm giác tê liệt, đuối sức, không thể điều khiển một nửa cơ thể. \n
- Đau nhức đầu nghiêm trọng, buồn nôn, chóng mặt, mất thăng bằng. \n
- Suy giảm thị giác đột ngột, thường xảy ra ở một bên mắt. \n
- Tinh thần không tỉnh táo, không thể nhớ hay hiểu người khác đang nói gì. \n
Người bị đột quỵ có thể có một vài dấu hiệu trên. Tùy thể trạng sức khỏe của mỗi người mà dấu hiệu đột quỵ khác nhau. Ngoài ra, người bệnh có thể gặp cơn thiếu máu não thoáng qua với các triệu chứng giống hệt đột quỵ nhưng chỉ xảy ra trong vòng vài phút. Cơn thiếu máu não thoáng qua là dấu hiệu cảnh báo tình trạng đột quỵ sắp xuất hiện, có thể là trong vòng vài ngày hoặc một tháng sắp tới.
\n4. Những nguyên nhân nào có thể dẫn đến đột quỵ?
\nBS.CK1 Cao Thị Lan Hương:
\nĐối với đột quỵ do thiếu máu cục bộ, chúng ta hay gặp nhất 2 thể nên sẽ nói rõ hơn về 2 thể này, đó là: đột quỵ do huyết khối và đột quỵ do tắc mạch.
\nTrong đột quỵ do huyết khối, huyết khối (cục máu đông) thường hình thành xung quanh các mảng xơ vữa động mạch.
\nCác bệnh có thể hình thành huyết khối trong các mạch máu não lớn bao gồm (theo tỷ lệ giảm dần): xơ vữa động mạch, co mạch (thắt chặt động mạch), phình bóc tách động mạch chủ, phình bóc tách động mạch cảnh hoặc động mạch đốt sống, các bệnh viêm khác nhau của thành mạch máu (viêm động mạch Takayasu, viêm động mạch tế bào khổng lồ, viêm mạch), bệnh mạch máu không viêm, bệnh Moyamoya và loạn sản cơ sợi.
\nCác bệnh có thể hình thành huyết khối trong các mạch máu não nhỏ thường gặp nhất là bệnh rối loạn lipid máu.
\nTrong đột quỵ do tắc mạch, tắc mạch thường phát sinh nhất từ tim (đặc biệt là trong rung nhĩ) nhưng có thể bắt nguồn từ nơi khác trong cây động mạch. Trong thuyên tắc nghịch lý, huyết khối tĩnh mạch sâu gây tắc nghẽn qua lỗ thông liên nhĩ hoặc thông liên thất ở tim vào não.
\nĐối với đột quỵ do xuất huyết, hay còn gọi là xuất huyết não, nguyên nhân thường gặp nhất là do tăng huyết áp, dị dạng mạch máu nội sọ (bao gồm u mạch hoặc dị dạng động mạch), bệnh mạch máu não dạng amyloid, hoặc nhồi máu não chuyển dạng xuất huyết. Các nguyên nhân tiềm ẩn khác là chấn thương, rối loạn chảy máu, bệnh mạch amyloid, sử dụng ma túy bất hợp pháp.
\n5. “Bệnh tim mạch là yếu tố nguy cơ gây đột quỵ và đột quỵ là yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành”, đúng hay sai?
\nBS.CK1 Cao Thị Lan Hương:
\nNhư đã trình bày ở trên, đột quỵ mặc dù là bệnh xảy ra ở não, nhưng bản chất là bệnh lý của mạch máu của não. Cho nên có trường phái xếp đột quỵ thuộc về nhóm bệnh tim mạch (tim và mạch). Cũng có trường phái tách riêng hai bệnh này, bệnh đột quỵ riêng và bệnh tim mạch riêng, vì có sự khác biệt về mặt triệu chứng và cách điều trị do là 2 cơ quan khác nhau, nhưng chúng vẫn liên quan mật thiết với nhau, đặc biệt là về yếu tố nguy cơ gây bệnh, vì cùng cơ chế chính là bệnh lý của mạch máu.
\nMột yếu tố nguy cơ ảnh hưởng lên mạch máu ở tim (yếu tố nguy cơ tim mạch) thì cũng sẽ ảnh hưởng lên mạch máu ở não (yếu tố nguy cơ đột quỵ). Và khi có biến cố xảy ra ở một mạch máu nào trong cơ thể, đó là dự báo cho nguy cơ xảy ra biến cố ở một mạch máu khác trong cơ quan khác. Cho nên, đột quỵ sẽ là yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành trong tương lai, và người bệnh mạch tim mạch nói chung hay bệnh mạch vành nói riêng, cũng sẽ là yếu tố nguy cơ của bệnh đột quỵ trong tương lai.
\n
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương – công tác tại Khoa điều trị theo yêu cầu (khoa dịch vụ) và Khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện Trưng Vương cho biết, đột quỵ và tim mạch có thể phòng ngừa được.
6. Làm sao chẩn đoán được đột quỵ ở người bình thường, người có dấu hiệu hoặc có tiền sử?
\nBS.CK1 Cao Thị Lan Hương:
\nDựa trên triệu chứng và đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch (Tăng huyết áp, hút thuốc lá, đái tháo đường, bệnh van tim, thiếu máu cơ tim, rung nhĩ, bệnh mạch máu ngoại biên, tiền căn thiếu máu cục bộ thoáng qua, tăng thể tích hồng cầu, phụ nữ vừa hút thuốc lá vừa dùng thuốc tránh thai nội tiết tố, tăng chất béo trong máu, lạm dụng thức uống có cồn (rượu, bia), rối loạn chức năng đông máu), bác sĩ có thể nghi ngờ đột quỵ và chẩn đoán bằng kỹ thuật chụp CT não hoặc MRI.
\nQua hình ảnh chẩn đoán, bác sĩ có thể xác định được nguyên nhân gây đột quỵ cũng như vị trí ảnh hưởng, từ đó xem xét can thiệp thích hợp.
\nMột trường hợp rất hay được đề cập đến ở đây là “đột quỵ ở người bình thường”. Thật ra, đây chính là “đột quỵ thầm lặng”. Đột quỵ thầm lặng là một cơn đột quỵ không có bất kỳ triệu chứng bên ngoài nào và người bệnh thường không biết mình đã bị đột quỵ. Mặc dù không gây ra các triệu chứng dễ nhận biết, một cơn đột quỵ thầm lặng vẫn làm tổn thương não và khiến người bệnh có nguy cơ bị thiếu máu não cục bộ thoáng qua và đột quỵ lớn trong tương lai. Ngược lại, những người đã từng bị đột quỵ lớn cũng có nguy cơ bị đột quỵ thầm lặng. Loại đột quỵ thầm lặng này thường gây ra các tổn thương được phát hiện thông qua việc sử dụng hình ảnh thần kinh như MRI.
\n7. Bệnh nhân bị bệnh tim mạch khi nào cần tới bệnh viện ngay để hạn chế nguy cơ đột quỵ xảy ra?
\nBS.CK1 Cao Thị Lan Hương:
\nBệnh nhân có bệnh lý tim mạch luôn đối diện với nguy cơ đột quỵ. Do đó, bệnh nhân cần nhớ các dấu hiệu sớm của đột quỵ để đến bệnh viện ngay:
\nNhận biết sớm đột quỵ với quy tắc F.A.S.T:
\n– Face (Khuôn mặt): Gương mặt có dấu hiệu mất cân đối khi cười, nhe răng, nói chuyện. Nếp mũi và một bên mặt bị xệ xuống.
\n– Arm (Tay): Tay yếu, có dấu hiệu bị liệt, không thể giơ đều hai tay hoặc một bên tay không thể giơ lên được.
\n– Speech (Lời nói): Nói lắp, nói không rõ lời, không nói được.
\n– Time (Thời gian): Nếu xuất hiện 3 dấu hiệu trên, bệnh nhân có nguy cơ đột quỵ cao, cần đưa đến cơ sở y tế ngay lập tức. Thời gian “vàng” cho bệnh đột quỵ là 60 phút, mỗi phút qua đi, mức độ tổn thương của hệ thần kinh càng nghiêm trọng.
\nNgoài ra, người bệnh có thể gặp cơn thiếu máu não thoáng qua với các triệu chứng giống hệt đột quỵ nhưng chỉ xảy ra trong vòng vài phút. Cơn thiếu máu não thoáng qua là dấu hiệu cảnh báo tình trạng đột quỵ sắp xuất hiện, có thể là trong vòng vài ngày hoặc một tháng sắp tới. Những dấu hiệu đột quỵ có thể đến và qua đi rất nhanh. Bạn cần lắng nghe cơ thể, khi thấy các dấu hiệu này xuất hiện cần chủ động đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt để được kiểm tra.
\n8. Phương pháp nào giúp điều trị bệnh nhân đột quỵ do tim mạch? Tỷ lệ thành công cao không?
\nBS.CK1 Cao Thị Lan Hương:
\nVới đột quỵ do huyết khối, chúng ta dùng thuốc phá vỡ cục máu đông làm tắc nghẽn (thuốc tiêu sợi huyết) hoặc can thiệp lấy cục máu đông. Nếu đột quỵ do xuất huyết, chúng ta sẽ can thiệp nội mạch hoặc phẫu thuật để xử lý chỗ xuất huyết. Song song đó, bác sĩ sẽ tích cực hồi sức cấp cứu cho bệnh nhân, ổn định huyết áp, ổn định tinh thần, giảm đau cho người bệnh.
\nTỉ lệ thành công cao hay thấp sẽ tùy thuộc vào nhiều yếu tố, hàng đầu là thời gian nhập viện (càng sớm càng tốt), mức độ nhồi máu não và xuất huyết não, các bệnh lý nền của bệnh nhân. Đột quỵ là một bệnh lý nguy hiểm gây nên tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao, vì thế khi cơ thể xuất hiện bất kỳ những dấu hiệu nào liên quan đến đột quỵ và tai biến, bệnh nhân nên đến gặp bác sĩ để được trao đổi và có hướng can thiệp kịp thời.
\n9. Bệnh nhân bị đột quỵ có thể dẫn đến những biến chứng nào?
\nBS.CK1 Cao Thị Lan Hương:
\nCác biến chứng của đột quỵ khiến bệnh nhân bị ảnh hưởng nặng nề về sức khỏe, tâm lý, có thể dẫn đến khuyết tật tạm thời hoặc khuyết tật vĩnh viễn. Biến chứng ở vị trí nào còn phụ thuộc vào vị trí não bị ảnh hưởng và khoảng thời gian não không được cung cấp oxy bao gồm:
\n– Phù nề não sau đột quỵ;
\n– Viêm phổi: bệnh nhân đột quỵ tai biến mạch máu não thường gặp khó khăn trong việc nuốt, từ đó dẫn đến hiện tượng thức ăn, đồ uống dễ đi vào phổi gây viêm phổi;
\n– Nhồi máu cơ tim: 1/2 trường hợp đột quỵ có liên quan đến tình trạng xơ vữa động mạch, gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim sau đột quỵ do sự tồn tại của mảng xơ vữa;
\n– Trầm cảm: Bệnh có thể trở nên tồi tệ hơn với những bệnh nhân đã bị trầm cảm trước khi đột quỵ;
\n– Loét do tỳ đè (thời gian nằm liệt giường kéo dài): Người bị đột quỵ thường mất khả năng vận động, phải nằm hoặc ngồi yên tại chỗ trong thời gian dài gây viêm loét;
\n– Động kinh: Sau đột quỵ, não có thể có những hoạt động bất thường, gây ra co giật;
\n– Rối loạn thị giác: Người bị đột quỵ có thể bị giảm hoặc mất thị lực ở 1 hoặc cả hai mắt;
\n– Co cứng chi: Mất khả năng vận động, một tay bị yếu hoặc liệt;
\n– Thuyên tắc tĩnh mạch sâu chi dưới: Mất khả năng vận động hoặc hạn chế vận động khiến cục máu đông hình thành trong tĩnh mạch chân;
\n– Nhiễm trùng đường tiết niệu: Xảy ra ở bệnh nhân đột quỵ có đặt ống thông foley;
\n– Giảm nhận thức (mất trí nhớ);
\n– Mất chức năng nói, khó nói, nói không đầy đủ, nói từ vô nghĩa, không hiểu người khác nói gì…
\nĐột quỵ có quá trình phục hồi chậm và lâu dài. Đột quỵ thường phục hồi tốt trong 3 tháng đầu, chậm hơn 3 tháng tiếp theo, đột quỵ đã ngoài 6 tháng thì khả năng phục hồi rất chậm.
\n
Tuân thủ lối sống lành mạnh giúp bạn bảo vệ sức khỏe hiệu quả.
10. Cách để giảm thiểu nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch?
\nBS.CK1 Cao Thị Lan Hương:
\nĐột quỵ hoàn toàn có thể dự đoán trước, với các biện pháp can thiệp kịp thời sẽ tránh bị xảy ra đột quỵ. Mọi người trên 50 tuổi, và có yếu tố nguy cơ đột quỵ cần kiểm tra định kỳ chuyên khoa để biết trước nguy cơ gần xảy ra đột quỵ như sau:
\n– Làm điện tim, siêu âm tim để xác định xem có bị hẹp van hai lá, rung nhĩ, loạn nhịp tim, cục máu luẩn quẩn trong tim hay không.
\n– Siêu âm động mạch chủ, động mạch cảnh; siêu âm xuyên sọ để tìm mảng vữa xơ động mạch, phình động mạch, hẹp động mạch.
\n– Chụp cộng hưởng từ mạch máu não(MRA), chụp CT scanner đa lớp cắt dựng mạch máu não hoặc chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) để xác định xem có hẹp mạch máu, phình mạch, dị dạng mạch máu não hay không.
\nPhòng ngừa cấp 1: kiểm soát các yếu tố nguy cơ; điều trị huyết áp, kiểm soát đường huyết, lipid máu; bỏ thuốc lá; dùng thuốc kháng đông trọn đời ở những người bị thấp tim hoặc mang van tim nhân tạo ở bên tim trái. Cân nhắc khả năng dùng thuốc kháng đông ở người bị rung nhĩ mạn tính. Tiến hành đặt stent động mạch cảnh khi hẹp trên 75%, hoặc mổ bóc nội mạc động mạch cảnh, nút coils phình mạch, nút ổ dị dạng động tĩnh mạch (AVM) để tránh nguy cơ nhồi máu não hoặc chảy máu não.
\nPhòng ngừa cấp 2: Tiếp tục kiểm soát các yếu tố nguy cơ. Nếu là tắc mạch máu hoặc rung nhĩ mạn tính, có thể dùng aspirin hoặc warfarin. Tiến hành can thiệp mạch thần kinh khi có hẹp động trên 50%, hoặc phình động mạch não.
\nCách phòng ngừa tốt nhất là tuân thủ lối sống lành mạnh:
\n– Ngưng hút thuốc lá, tránh hút thuốc lá thụ động
\n– Thể dục thường xuyên, tối thiểu 30 – 45 phút mỗi ngày, các ngày trong tuần. Có thể đi bộ, chạy bộ, chạy xe đạp, bơi lội, đánh cầu lông, bóng bàn, đánh golf, tập yoga, thể dục nhịp điệu, thiền,..tùy theo tình trạng sức khỏe mỗi người; tránh căng thẳng trong cuộc sống và công việc.
\n– Giảm cân nếu dư cân, béo phì (khi BMI >23): đặt mục tiêu giảm từ 5% đến 7% cân nặng trong vòng mỗi 6 tháng đến khi đạt cân nặng lý tưởng (BMI từ 18 – 22)
\n– Chế độ ăn tốt cho tim mạch:
\n- \n
- \n
- \n
- Ăn ít chất béo, thịt mỡ, chất bột đường, thực phẩm đóng hộp, thức ăn nhanh, hạn chế muối, giảm rượu bia. \n
- Nên ăn cá, thịt gia cầm; nên ăn nhiều trái cây, rau, củ, quả, hạt, thực phẩm tươi sống, organic. \n
\n
Benhdotquy.net
Tự vào viện vì đau ngực nhẹ và cú ngừng tim không báo trước
Một cơn đau ngực tưởng chừng nhẹ, một quyết định đi khám “cho yên tâm”, nhưng chỉ ít phút sau khi vào viện, người đàn ông 44 tuổi bất ngờ ngừng tim ngay tại phòng cấp cứu. Nhờ phản ứng nhanh của ê-kíp y tế, bệnh nhân được cứu sống ngoạn mục và hồi phục gần như hoàn toàn – một ca bệnh cảnh báo nguy cơ nhồi máu cơ tim tối cấp ở người trẻ.
\nMultimedia
Theo dõi trên:Video
Hướng dẫn kỹ năng “Ép tim – thổi ngạt” để cứu người
Thời gian gần đây, các ca ngưng tim, ngưng thở xảy ra nhiều hơn, trong đó không ít trường hợp diễn ra ngay tại nhà hoặc nơi công cộng trước khi kịp tiếp cận y tế. Ít ai biết rằng vài phút đầu tiên chính là “thời gian vàng” quyết định sự sống còn. Video dưới đây hướng dẫn quy trình ép tim, thổi ngạt theo chuẩn lâm sàng, giúp mỗi người biết cách xử trí đúng khi khẩn cấp xảy ra, bảo vệ chính mình và hỗ trợ người xung quanh.
\nSống sót sau đột quỵ, làm gì để không bị lần 2?
Giới trẻ và đột quỵ: Khi lối sống hiện đại trở thành sát thủ âm thầm
Giải mã mối quan hệ nguy hiểm giữa đái tháo đường và đột quỵ
Phòng Tránh Đột Quỵ – Bắt Đầu Từ 5 Bài Tập Đơn Giản
Ngăn đột quỵ ngay từ phút đầu – Những điều nên biết
7 tình huống khiến đường huyết tăng vọt có thể bạn chưa biết













">
">
"> 
