Bạn biết gì các phương pháp điều trị phình mạch máu não?

Phình mạch máu não nếu không được điều trị, không chỉ gây ảnh hưởng đến nuôi dưỡng não, đến các bộ phận khác trên cơ thể mà còn có thể gây tử vong. Vậy có những phương pháp giúp điều trị phình mạch máu não hiệu quả? TS.BS Trần Chí Cường – Chủ tịch Hội can thiệp thần kinh TPHCM sẽ giải đáp trong bài viết dưới đây.

09-09-2022 16:59
Theo dõi trên |

1. Phình mạch máu não nguy hiểm ra sao?

Hiện nay, bệnh lý phình mạch máu não không còn là một bệnh lý hiếm gặp. Tỷ lệ lưu hành phình mạch máu não trong dân số có thể đạt đến 4%.

“Theo kinh nghiệm làm việc tại Bệnh viện Đột quỵ Tim mạch Cần Thơ, tỷ lệ này còn cao hơn nhiều. 85% trường hợp túi phình xảy ra ở vòng tuần hoàn Willis và 30% bệnh nhân có đa túi phình. Phần lớn những túi phình đều có kích thước nhỏ và hoàn toàn không gây ra triệu chứng.” – TS.BS Trần Chí Cường cho biết.

Theo một thống kê tại Mỹ, tỷ lệ vỡ túi phình bệnh nhân Mỹ trung bình là 30.000 ca/năm. Đa số bệnh nhân xuất huyết khoan dưới nhện ở tuổi 60 tuổi. Xuất huyết khoan dưới nhện và vỡ túi phình được coi là một thảm họa cho sức khỏe vì có nguy cơ tử vong và tàn phế rất cao, có thể lên đến 25 – 50%. Trong đó, có đến 50% bệnh nhân chịu những di chứng nặng nề nếu sống sót sau khi vỡ túi phình mạch máu não.

2. Biểu hiện của phình mạch máu não là gì?

“Đa số bệnh nhân cho biết họ trải qua cơn đau đầu rất khủng khiếp chưa từng xảy ra bao giờ, đó là một dấu hiệu cảnh báo xuất huyết khoang dưới nhện.” – TS.BS Trần Chí Cường cho biết.

Bên cạnh đó, bệnh nhân có thể bị nôn ói, hôn mê, cổ cứng, động kinh hoặc yếu liệt nửa người. Đặc biệt, một dấu hiệu có thể chẩn đoán túi phình khá dễ dàng đó là bệnh nhân bị liệt thần kinh số 3, sụp mi cùng bên do túi phình động mạch thông sau. Khoảng 10 – 43% bệnh nhân đã từng xuất huyết khoang dưới nhện xuất hiện những cơn đau đầu dữ dội và bất thường trong vòng 2 tháng trước đó.

 Xem thêm >>> 4 đặc điểm của túi phình dự dọa vỡ

3. Các phương pháp điều trị phình mạch máu não hiện nay

Trong những hướng dẫn về phác đồ điều trị xuất huyết khoang dưới nhện, có rất nhiều yếu tố mà bác sĩ cần quan tâm trước khi điều trị cho bệnh nhân như: kích thước của túi phình; vị trí túi phình; nguy cơ vỡ hay tiền căn xuất huyết khoang dưới nhện của bệnh nhân; tiền sử gia đình…

Về mặt lý thuyết, đối với túi phình chưa vỡ, bác sĩ có thể theo dõi và điều trị cho bệnh nhân. Theo đó, bác sĩ có thể sử dụng các phương pháp điều trị như: kẹp túi phình, phẫu thuật túi phình hoặc can thiệp nội mạc đặt coil…

Trong trường hợp bệnh nhân chưa bị vỡ túi phình nhưng có chỉ định theo dõi, việc theo dõi bằng hình ảnh không xâm lấn là rất quan trọng. Bệnh nhân nên chụp lại túi phình sau 6 tháng hoặc 12 tháng để đánh giá túi phình có nguy cơ vỡ hay không.

Người bệnh xuất huyết khoang dưới nhện cần được điều trị càng sớm càng tốt. Nhìn chung, các bác sĩ có thể điều trị cho bệnh nhân bằng các phương pháp phẫu thuật kẹp túi phình, đặt coil để tránh biến chứng tử vong.

Để làm rõ hiệu quả các phương pháp điều trị túi phình mạch máu não, TS Cường dẫn chứng nghiên cứu ASAT – so sánh tác dụng giữa phương pháp phẫu thuật kẹp túi phình và can thiệp nội mạch đặt coil ở bệnh nhân xuất huyết khoang dưới nhện do vỡ túi phình. Nghiên cứu này được thực hiện trên 278 bệnh nhân xuất huyết khoang dưới nhện có độ tuổi là 65, được chia thành 2 nhóm là can thiệp nội mạch đặt coil và phẫu thuật kẹp túi phình.

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, bệnh nhân được điều trị xuất huyết khoang dưới nhện bằng phương pháp đặt coil có tỷ lệ tử vong và tàn phế thấp hơn so với nhóm bệnh nhân điều trị bằng phương pháp kẹp túi phình. Tuy nhiên, trong phân tích nhóm nhỏ, đối với những bệnh nhân xuất huyết khoang dưới nhện hoặc có túi phình động mạch não giữa thì phương pháp kẹp túi phình cũng mang lại nhiều hiệu quả.

Nhìn chung, nếu túi phình có đường kính dưới 5 mm, không có triệu chứng và bệnh nhân chỉ phát hiện do tình cờ khi thăm khám thì có thể theo dõi trong 1 năm mà chưa cần điều trị ngay. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có triệu chứng đau đầu, sụp mi kéo dài trong 2 tháng mà điều trị bằng thuốc không đáp ứng thì cần phải cân nhắc điều trị.

“Phương pháp điều trị tốt nhất cho bệnh nhân không thiên về phẫu thuật hay can thiệp nội mạch mà cần lựa chọn phương pháp nào tối ưu nhất cho từng cá thể người bệnh. Theo đó, mục tiêu chính của điều trị túi phình là giữ được động mạch mang hoặc tách bỏ được đoạn phình. Đồng thời, chúng ta cần phân tích điểm lợi và bất lợi nếu điều trị hoặc không điều trị, đồng thời dự toán đến chi phí, hiệu quả cũng như nguy cơ tàn phế sau điều trị.” – TS Cường nhấn mạnh.

Theo các hướng dẫn, bác sĩ có thể cân nhắc điều trị bằng phương pháp kẹp túi phình nếu bệnh nhân có túi phình mạch máu não không quá sâu như ở động mạch não giữa M1, M2, túi phình động mạch thông trước, thông sau.

Đặc biệt, nếu bệnh nhân bị xuất huyết khoang dưới nhện có khối máu tụ trong não thất thì bác sĩ nên ưu tiên kẹp túi phình vì vừa có thể thực hiện kẹp túi phình và dẫn lưu não thất hoặc lấy máu tụ xung quanh túi phình.

Các bác sĩ có thể mở sọ giải áp nếu bệnh nhân bị xuất huyết dưới nhện và tăng áp lực nội sọ đáng kể. Đối với bệnh nhân chống chỉ định của can thiệp nội mạch như cấu trúc giải phẫu không phù hợp hoặc chống chỉ định thuốc cản quang do dị ứng thì cần được cân nhắc trước khi phẫu thuật. Điều quan trọng là cần cân nhắc về chi phí phương pháp điều trị, không nên chọn phương pháp tốn kém cho bệnh nhân.

Hiện, có rất nhiều kỹ thuật can thiệp động mạch để điều trị cho bệnh nhân gồm: tách bỏ đoạn phình, đặt coil, đặt stent hoặc dùng bóng. Tuy nhiên, cần lựa chọn phương pháp phù hợp vì không phải tất cả túi phình được áp dụng phương pháp giống nhau.

Trích trong báo cáo “Các phương pháp điều trị phình mạch máu não” của TS.BS Trần Chí Cường – Chủ tịch Hội Can thiệp Thần kinh TPHCM.

Trọng Dy (ghi) – Benhdotquy.net

Lần đầu triển khai kỹ thuật khoan cắt mảng xơ vữa bằng laser tại Việt Nam

Lần đầu triển khai kỹ thuật khoan cắt mảng xơ vữa bằng laser tại Việt Nam

Lần đầu các bác sĩ tại Việt Nam triển khai kỹ thuật khoan cắt mảng xơ vữa bằng laser trong điều trị hẹp tắc động mạch chi dưới, mở ra hướng đi mới cho bệnh nhân cao tuổi mắc nhiều bệnh nền.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ