Cảnh giác bệnh van tim hậu thấp, phòng ngừa đột quỵ “đe doạ”

Bệnh van tim hậu thấp là một trong những biến chứng của bệnh thấp tim với tỉ lệ mắc bệnh khoảng 3%. Đặc biệt, bệnh còn có thể dẫn đến biến chứng đột quỵ nếu không được điều trị. Rất khó để chữa khỏi hoàn toàn bệnh này nhưng có thể điều trị cải thiện nếu phát hiện bệnh sớm. Những chia sẻ từ BS.CK1 Cao Thị Lan Hương – bệnh viện Trưng Vương sẽ giúp bạn hiểu nguyên nhân, triệu chứng, cách chẩn đoán và điều trị bệnh hiệu quả.

22-09-2022 15:46
Theo dõi trên |

1. Bệnh van tim hậu thấp tim là gì?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời:

Bệnh van tim hậu thấp là bệnh xảy ra ở giai đoạn muộn của bệnh thấp tim.

Thấp tim hay bệnh tim do thấp là một bệnh viêm cấp tính có tính chất toàn thân (có liên quan đến miễn dịch) chỉ xảy ra sau một hay nhiều đợt viêm họng do liên cầu bêta tan huyết nhóm A theo phân loại của Lancefield. Bệnh biểu hiện bằng một hội chứng bao gồm: Viêm đa khớp, viêm tim, chorea, hạt dưới da, ban đỏ vòng.

Bệnh thường khởi phát với tình trạng viêm họng hoặc các viêm nhiễm đường hầu họng khác như viêm amidan, viêm xoang,…trong khoảng 2 – 3 tuần. Trong thời gian này, cơ thể sản sinh kháng thể chống lại vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên, chất cấu tạo nên cơ tim và van tim có cấu tạo gần giống với tế bào vi khuẩn, cụ thể:

– Thành phần hyaluronat trong glycoprotein của van tim giống với màng liên cầu khuẩn.

– Màng sợi cơ tim tương tự kháng nguyên trên màng liên cầu khuẩn.

– Myosin của cơ tim giống với protein M – độc tố chính của vi khuẩn liên cầu tan huyết nhóm A.

Do đó hệ miễn dịch có thể nhận diện và tấn công nhầm cấu trúc van tim, cơ tim. Hậu quả là các lá van tim dày lên, dính lại với nhau. Cùng với đó là hiện tượng lắng đọng canxi khiến các lá van trở nên cứng hơn, giảm khả năng đóng – mở linh hoạt, gây ra tình trạng hẹp, hở van tim.

Và từ đó gây ra bệnh van tim hậu thấp, một trong những biến chứng của bệnh thấp tim. Tỷ lệ mắc bệnh khoảng 3% sau viêm họng do liên cầu khuẩn, điều này chứng tỏ chỉ một số người có các kháng nguyên tương tự như của liên cầu. Ở Việt Nam tỷ lệ Thấp tim ở trẻ em < 16 tuổi là 0,45%.

Bệnh van tim hậu thấp là bệnh xảy ra ở giai đoạn muộn của bệnh thấp tim.Bệnh van tim hậu thấp là bệnh xảy ra ở giai đoạn muộn của bệnh thấp tim.

2. Bệnh van tim hậu thấp tim thường xảy ra ở van tim nào? Vì sao?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời:

Các van của tim trái gồm van hai lá và van động mạch chủ là 2 van tim dễ bị tổn thương nhất bởi thấp tim. Bởi vì lượng máu luân chuyển qua tim trái nhiều với tốc độ mạnh hơn so với tim phải, nên lớp nội tâm mạc phủ lên các lá van của tim trái cũng bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi các yếu tố viêm.

Đầu tiên các van bị viêm trên bề mặt, sau đó loét, tổn thương này sẽ tạo điều kiện hình thành cục sùi nhỏ có kích thước từ 1-2cm, dễ mủn nát. Cục sùi sẽ được tổ chức hoá và thành sẹo xơ. Tổn thương viêm còn vẫn tiếp tục xảy ra ở trong van làm cấu trúc của van bị phá huỷ sau đó hình thành các sẹo xơ và làm cho van bị biến dạng dẫn tới hẹp hở van tim.

3. Dấu hiệu nào giúp nhận biết bệnh van tim hậu thấp tim?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời:

Dấu hiệu nhận biết bệnh van tim hậu thấp chính là triệu chứng của hẹp hở van tim, mà thường là hẹp hở van hai lá và van động mạch chủ. Theo đó, bệnh nhân có các triệu chứng như sau, tùy thuộc và lá van nào bị ảnh hưởng và mức độ tổn thương của lá van:

  • Khó thở, đặc biệt là khi nằm hay hoạt động mạnh, có thể có cơn khó thở về đêm.
  • Mệt mỏi kéo dài liên tục ngay cả khi không hoạt động (giảm khả năng gắng sức).
  • Tim đập nhanh, đánh trống ngực liên tục ngay cả khi không hoạt động.
  • Ho khan, nhất là về đêm.
  • Không nằm thấp đầu được.
  • Choáng ngất.
  • Phù mắt cá chân hoặc bàn chân.
  • Ho ra máu do tăng áp phổi

Nếu hẹp van hai lá xảy ra ở trẻ nhỏ thì trẻ có thể có biểu hiện còi cọc, chậm lớn, viêm phổi tái phát nhiều lần, mắc những rối loạn về thần kinh, vận động. Cần đặc biệt chú ý các dấu hiệu này ở trẻ nhỏ để phát hiện bệnh sớm.

Một số trường hợp biểu hiện đầu tiên của bệnh nhân là liệt nửa người, méo miệng, hoặc đau dữ dội một chân, đó là các biểu hiện của tắc mạch cấp do cục máu đông từ tim trôi vào các mạch máu nhỏ gây tắc mạch. Các cục máu đông này thường được hình thành trong trường hợp bệnh nhân có hẹp khít van hai lá, tim đập loạn nhịp khiến dễ hình thành cục máu đông trong buồng tim.

Một số bệnh nhân ghi nhận được bệnh cảnh của thấp tim trước đó (hội chứng bao gồm: Viêm đa khớp, viêm tim, chorea, hạt dưới da, ban đỏ vòng). Nhưng có 1 số bệnh nhân không hề nhớ về giai đoạn bệnh thấp tim trước đó, đa số là người có hoàn cảnh khó khăn và ít quan tâm sức khỏe, họ tìm đến y tế khi có các triệu chứng của hẹp hở van tim và sau khi bác sĩ đánh giá lại độ tuổi, siêu âm tim quan sát đặc điểm tổn thương lá van thì có thể hướng đến chẩn đoán bệnh van tim hậu thấp.

4. Bệnh van tim hậu thấp tim thường dễ nhầm lẫn với bệnh lý nào và làm sao để phân biệt?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời:

Tùy vào độ tuổi khởi phát triệu chứng và mức độ nặng của tổn thương lá van mà việc nghĩ đến và tầm soát ra đúng bệnh van tim hậu thấp dễ hay khó.

Ví dụ như ở trẻ em, những triệu chứng như viêm phổi tái đi tái lại nhiều lần, còi cọc chậm phát triển, khó thở khi gắng sức, thậm chí là ho ra máu rất dễ lầm với bệnh lý tại phổi, suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch…Hay thanh niên dưới 40 tuổi mà có các triệu chứng khó thở, ho ra máu, cũng dễ lầm với bệnh lý hô hấp nhiều hơn tim mạch.

Cách để chẩn đoán xác định và phân biệt hiệu quả nhất chính là khám tim mạch và làm các xét nghiệm cơ bản (như chụp X-quang ngực, đo điện tim, siêu âm tim, xét nghiệm máu…), trong đó có giá trị nhất là siêu âm tim.

Bệnh van tim hậu thấp dễ lầm với bệnh lý hô hấp nhiều hơn tim mạch.Bệnh van tim hậu thấp dễ lầm với bệnh lý hô hấp nhiều hơn tim mạch.

5. Bệnh van tim hậu thấp tim gây ra những biến chứng nào?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời:

Biến chứng thường gặp của bệnh van tim hậu thấp là suy tim. Van tim hoạt động không đúng cách khiến giảm hiệu quả bơm máu. Điều này khiến tim phải co bóp nhiều hơn bình thường để đảm bảo lượng máu nuôi dưỡng cơ thể. Theo thời gian, việc hoạt động gắng sức kéo dài sẽ làm trái tim mệt mỏi, yếu dần dẫn đến suy tim.

Ngoài ra, bệnh van tim hậu thấp còn gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng khác như rung nhĩ, huyết khối, tăng áp lực động mạch phổi, viêm nội tâm mạc, đột quỵ, suy thận, v.v.

6. Đột quỵ cũng có thể xảy ra nếu bệnh nhân không điều trị bệnh van tim hậu thấp tim, vì sao?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời:

Một trong những biến chứng của bệnh van tim hậu thấp chính là đột quỵ, đôi khi đó là triệu chứng đầu tiên đưa người bệnh đến bệnh viện. Nguyên nhân dẫn đến đột quỵ trong bệnh van tim hậu thấp là do huyết khối hình thành trong buồng tim bị giãn. Van tim như là cánh cửa giữa các buồng tim, khi van tim bị tổn thương, cánh cửa giữa các buồng tim hoạt động không bình thường, vừa hẹp vừa hở sẽ làm máu ứ lại tim, tim phải tăng co bóp đẩy máu đi, lâu ngày buồng tim sẽ giãn, tim giảm khả năng co bóp, xuất hiện loạn nhịp tim, làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông. Cục máu đông được hình thành có nguy cơ vỡ và theo dòng máu đi khắp nơi trong cơ thể và nếu gây tắc nghẽn tại mạch máu trong não, bệnh nhân sẽ bị nhồi máu não, đột quỵ. Trong bệnh van tim hậu thấp thì hẹp hở van hai lá là có nguy cơ đột quỵ cao nhất.

7. Bệnh van tim hậu thấp tim liệu có thể chữa khỏi?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời:

Rất khó để có thể chữa khỏi bệnh van tim hậu thấp, dù người bệnh đã phải phẫu thuật thay van tim thì sau khi điều trị vẫn cần dùng thuốc dự phòng, tránh những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra.

Điều trị bệnh tim hậu thấp bao gồm:

7.1. Điều trị nội khoa

Những nhóm thuốc thường được sử dụng trong điều trị bệnh van tim hậu thấp bao gồm:

  • Thuốc lợi tiểu: Thuốc lợi tiểu có tác dụng loại bỏ chất lỏng dư thừa ra khỏi cơ thể, làm giảm các triệu chứng ho, phù, khó thở.
  • Thuốc chống loạn nhịp tim: Thuốc chống loạn nhịp tim giúp kiểm soát nhịp tim, giảm hồi hộp, đánh trống ngực.
  • Thuốc ức chế men chuyển ACE: Thuốc ức chế men chuyển ACE có tác dụng thư giãn mạch máu, hạ huyết áp, giảm áp lực của máu lên van tim.
  • Thuốc chẹn beta: Thuốc chẹn beta giúp điều trị huyết áp cao, giảm nhịp tim.
  • Thuốc chống đông máu: Thuốc chống đông máu có tác dụng ngăn ngừa hình thành cục máu đông trên van tim gây rách van, di chuyển vào mạch máu gây tắc mạch.

7.2. Điều trị ngoại khoa

Điều trị ngoại khoa bệnh van tim hậu thấp có 2 phương pháp chính là tạo hình van và thay van tim. Ngoài ra, đối với trường hợp van tim chỉ bị hẹp đơn thuần, người bệnh có thể được nong van tim bằng can thiệp mạch qua da.

7.2.1. Nong van tim

Nong van tim là thủ thuật có chi phí thấp và độ an toàn cao hơn phương pháp mổ hở truyền thống. Thủ thuật được tiến hành như sau: Đầu tiên, ống thông được luồn trong lòng mạch máu từ tĩnh mạch đùi ở bẹn tới van tim. Đầu ống thông có quả bóng, khi bơm căng bóng lỗ van sẽ được nới rộng ra. Với phương pháp này, bệnh nhân không cần phải phẫu thuật và thời gian nằm viện ngắn.

7.2.2. Tạo hình van

Tạo hình van được áp dụng đối với những van tim chưa bị tổn thương nặng. Đối với hẹp van tim, phẫu thuật viên sẽ tiến hành cắt, sửa các mép van bị dính. Còn đối với hở van tim, phẫu thuật viên sẽ tiến hành cắt, khâu dây chằng, đặt vòng van, thu hẹp đường kính vòng van.Ưu điểm của tạo hình van là giảm nguy cơ nhiễm trùng van và giảm thời gian sử dụng thuốc kháng đông (trung bình 6 tháng, nếu không có các chỉ định khác).

7.2.3. Thay van tim

Thay van tim được áp dụng với van tim đã bị tổn thương nặng, không thể tạo hình van được nữa. Van tim có 2 loại là van tim cơ học và van tim sinh học:

  • Van cơ học: Van cơ học được làm từ vật liệu nhân tạo (titan, carbon…). Ưu điểm là độ bền cao, có thể sử dụng suốt đời. Nhược điểm là người bệnh cần được theo dõi và điều trị thuốc kháng đông suốt đời. Van cơ học sẽ phù hợp với nam giới, nữ giới sau độ tuổi sinh sản.
  • Van sinh học: Van sinh học được làm từ vật liệu tự nhiên (màng tim heo, bò…) đã qua xử lý để loại bỏ các thành phần gây thải ghép hoặc van lấy từ người hiến tạng. Ưu điểm là thời gian uống kháng đông ngắn hơn (thường 6 tháng sau mổ). Nhược điểm là van sẽ bị thoái hóa theo thời gian, trung bình được sử dụng 10-15 năm tùy cơ địa từng người; chi phí phẫu thuật cao hơn so với van cơ học. Van sinh học phù hợp với nữ giới đang trong độ tuổi sinh sản.

>>> Xem thêm: Cơ tim ngủ đông: Dấu hiệu, điều trị và cách phòng ngừa

8. Bệnh van tim hậu thấp tim được chẩn đoán bằng cách nào?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời:

Để chẩn đoán bệnh bệnh van tim hậu thấp, trước tiên, bác sĩ sẽ khám tổng quát, hỏi về tiền sử bệnh lý cũng như tiền sử gia đình của người bệnh. Một phương pháp rất đơn giản là dùng ống nghe sẽ giúp phát hiện ra tiếng thổi ở tim (do dòng máu phụt bất thường qua van tim bị tổn thương). Nếu nghi ngờ có bệnh lý van tim, bác sĩ sẽ chỉ định bệnh nhân thực hiện một số phương pháp cận lâm sàng như:

  • Siêu âm tim: Là phương pháp quan trọng nhất trong chẩn đoán chính xác tình trạng tổn thương van tim, giúp xác định và đánh giá mức độ hẹp-hở van, ảnh hưởng của bệnh tới các chức năng của tim. Phương pháp này cũng có thể giúp phát hiện các bệnh lý tim mạch khác như thiếu máu cơ tim, bất thường tim bẩm sinh.
  • X-quang tim phổi: ghi nhận bóng tim to, sung huyết phổi
  • Điện tâm đồ: có thể thấy hình ảnh dày giãn buồng tim, rung nhĩ

Một số phương pháp chẩn đoán khác như siêu âm tim qua thực quản (TEE), siêu âm tim khi gắng sức, chụp CT cắt lớp tim và mạch vành, chụp cộng hưởng từ (MRI), được áp dụng để kết luận chính xác về mức độ hẹp/ hở của van tim, các bất thường cấu trúc khác đi kèm của tim, tìm huyết khối ở nhĩ trái, tìm mảnh sùi của viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, đánh giá chức năng tim hoặc khi dự định phẫu thuật.

Siêu âm tim là phương pháp quan trọng nhất trong chẩn đoán chính xác tình trạng tổn thương van tim, giúp xác định và đánh giá mức độ hẹp-hở van, ảnh hưởng của bệnh tới các chức năng của tim. Siêu âm tim là phương pháp quan trọng nhất trong chẩn đoán chính xác tình trạng tổn thương van tim, giúp xác định và đánh giá mức độ hẹp-hở van, ảnh hưởng của bệnh tới các chức năng của tim. 

9. Phòng ngừa bệnh van tim hậu thấp tim bằng cách nào?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương trả lời:

Bệnh van tim hậu thấp rất nguy hiểm nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa bằng việc thực hiện lối sống lành mạnh và sinh hoạt điều độ như:

  • Giữ môi trường sống sạch sẽ, vệ sinh khu vực nhà ở và môi trường sống xung quanh;
  • Chú ý giữ vệ sinh cơ thể và vùng mũi họng sạch sẽ;
  • Giữ ấm vùng cổ, ngực, mũi họng trong mùa đông;
  • Duy trì lối sống khoa học để nâng cao sức đề kháng và bảo vệ tim mạch:
  • Tăng cường ăn các loại rau xanh, trái cây tươi, ngũ cốc nguyên hạt, các loại thịt trắng như cá tươi, thịt gà, v.v
  • Hạn chế những thực phẩm chứa nhiều chất béo (thịt mỡ, đồ ăn nhanh, đồ chiên xào…)
  • Ăn giảm mặn
  • Luyện tập thể dục mỗi ngày với các hoạt động vừa sức, phù hợp với tình trạng sức khỏe như đi bộ, đạp xe, bơi lội, yoga, v.v
  • Không hút thuốc lá
  • Giảm rượu bia
  • Duy trì cân nặng lý tưởng
  • Nếu bạn bị viêm họng, viêm amidan hoặc viêm xoang cần đến các cơ sở y tế để được điều trị triệt để. Với trẻ em từ 5-15 tuổi có viêm họng kèm đau mỏi, sưng các khớp, tức ngực, hồi hộp và khó thở, đau vùng tim kèm theo bất thường về thần kinh vận động cần cho trẻ đến các cơ sở y tế có chuyên khoa tim mạch để được khám và điều trị kịp thời. Bởi vì việc phát hiện sớm các tổn thương do bệnh thấp tim gây ra cũng rất quan trọng trong việc điều trị dự hậu lâu dài bằng kháng sinh, việc điều trị sớm sẽ giảm tối đa biến chứng của bệnh gây nên.
  • Tuân thủ chế độ tiêm phòng tái phát thấp tim cho trẻ dưới sự chỉ dẫn của bác sĩ, đây là việc rất cần thiết vì nếu không tiêm phòng, bệnh sẽ dễ dàng tái phát nhiều lần và để lại di chứng ngày càng nặng dẫn đến suy tim không hồi phục rất nguy hiểm đến tính mạng. Cho đến nay, chưa có vắc xin chống liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A. Vì vậy, việc chẩn đoán và điều trị kịp thời các bệnh nhiễm liên cầu khuẩn vẫn là phương pháp hữu hiệu nhất để phòng tránh bệnh thấp tim và từ đó sẽ phòng ngừa được biến chứng của thấp tim là bệnh van tim hậu thấp. Gia đình phải cho trẻ tái khám định kỳ mỗi 4 tuần, 3 tháng hoặc 6 tháng tùy theo hướng dẫn của bác sĩ. Không nên bỏ tái khám vì bệnh sẽ tái phát và diễn tiến nặng lên nhiều.

Benhdotquy.net

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Một gói thuốc được quảng cáo “chống đột quỵ cấp tốc”, vài lời truyền miệng trên mạng xã hội và niềm tin rằng có thể “câu giờ” trước khi đến bệnh viện – tất cả đang tạo nên một xu hướng nguy hiểm: người nhà tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc đột quỵ ngay tại nhà hoặc thậm chí ngay trong phòng cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, hành động tưởng như cứu người này có thể khiến bệnh nhân mất cơ hội sống.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ