10 câu hỏi thường gặp về bệnh mạch vành
Nhiều thắc mắc của bạn đọc kênh Bệnh Đột Quỵ về bệnh mạch vành đã được giải đáp bởi BS.CK1 Cao Thị Lan Hương – công tác tại Khoa điều trị theo yêu cầu (khoa dịch vụ) và Khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện Trưng Vương.
Mục lục
1. Nhờ BS giải đáp, liệu đau thắt ngực có phải là bệnh mạch vành?
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Dấu hiệu đặc trưng nhất của bệnh mạch vành là cơn đau thắt ngực. Cơn đau thắt ngực điển hình biểu hiện bằng cảm giác khó chịu ở ngực, hàm, vai, lưng hoặc cánh tay, triệu chứng gia tăng khi gắng sức hoặc stress tình cảm, biến mất khi ngậm nitroglycerin. Cơn đau thắt ngực gọi là ổn định khi các đặc điểm của cơn đau (tần suất, độ nặng, thời gian đau, giờ xuất hiện và yếu tố làm nặng) không thay đổi trong 60 ngày trước. Bệnh nhân có thể không có cảm giác đau, mà mô tả cảm giác khác ở ngực như: đè nặng, bóp nghẹt, khó chịu, nóng bỏng, khó tiêu, xiết chặt, tức, đầy đầy, nặng ngực…vị trí đau thường ở sau xương ức hay ngực trái, có thể kèm hoặc chỉ đau thượng vị, có thể lan tới cánh tay, ít hơn tới 2 vai, hàm dưới, bụng nhưng không lan xuống dưới rốn. Cơn đau thường xuất hiện ban ngày, lúc gắng sức hoặc xúc động, đang ăn hoặc thời tiết lạnh, kéo dài vài phút đến 10-15 phút, hiếm khi trên 30 phút. Tuy nhiên, không phải lúc nào cơn đau thắt ngực cũng điển hình như vậy, mà thường gặp hơn là những cơn đau thắt ngực không điển hình, nữ giới, người lớn tuổi, người có bệnh đái tháo đường thường gặp các cơn đau thắt ngực không điển hình hơn các đối tượng còn lại. Thêm vào đó, những bệnh lý khác ở tim ngoài bệnh thiếu máu cơ tim và các bệnh lý khác ngoài tim gây ra cơn đau ngực cũng có thể biểu hiện bằng cơn đau thắt ngực không điển hình. Như vậy, một cơn đau thắt ngực điển hình ở người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh mạch vành (như hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường, xơ vữa động mạch) thì chúng ta nghĩ nhiều đến bệnh mạch vành. Ngược lại, một cơn đau thắt ngực không điển hình thì có thể là biểu hiện của bệnh mạch vành, mà cũng có thể không phải bệnh mạch vành.
2. Có trường hợp bệnh nhân bị bệnh mạch vành mà không đau ngực không, thưa BS?
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Thực tế có một số trường hợp bệnh động mạch vành không đau ngực, triệu chứng này hay còn gọi là thiếu máu cơ tim thầm lặng. Các nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng này là: Tổn thương cơ tim chưa đủ để kích thích tạo ra một cơn đau: Ở người bệnh thiếu máu cơ tim thầm lặng, thông thường các mạch vành chỉ co thắt, chít hẹp chút ít, chưa đủ nhiều và đủ lâu, dẫn đến lưu lượng máu giàu oxy đến nuôi cơ tim chỉ thiếu hụt một lượng ít, thời gian tim thiếu máu ngắn, chưa đủ để kích thích tạo ra một cơn đau thắt ngực. Người bệnh không cảm nhận được cơn đau Trong một số trường hợp tổn thương cơ tim đã đủ để kích thích tạo ra một cơn đau thắt ngực, nhưng người bệnh vẫn không cảm nhận được cơn đau do: – Người bệnh có ngưỡng đau cao hơn, dung nạp với kích thích đau tốt hơn so với mức bình thường (thông thường nữ giới có ngưỡng đau cao hơn nam giới). – Người bệnh có bất thường trong đường truyền cảm giác đau như ở bệnh nhân đái tháo đường, người lớn tuổi, do các dây thần kinh bị tổn thương làm cho các dấu hiệu của bệnh trở nên mờ nhạt, khó phát hiện. Người bệnh gặp các “triệu chứng tương đương với cơn đau thắt ngực” Theo đó, bệnh nhân có thể chỉ có cảm giác khó thở khi gắng sức, rất giống với bệnh lý phổi tắc nghẽn mạn tính; hay đau thượng vị khi gắng sức, rất giống với cơn đau dạ dày, và có khi chỉ là cảm giác mệt, giảm dung nạp với gắng sức. Tình trạng này hay gặp trong thiếu máu cơ tim ở những vùng đặc biệt như thành dưới (nằm đè lên dạ dày), thành sau…
3. Xơ vữa động mạch, xơ cứng mạch có phải là bệnh mạch vành?
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Xơ vữa động mạch được đặc trưng bởi các mảng bám nội mạc (mảng xơ vữa) xâm lấn vào lòng các động mạch cỡ trung bình và lớn. Xơ vữa động mạch là dạng phổ biến nhất của xơ cứng động mạch, vốn là thuật ngữ chung cho một số rối loạn gây dày và mất đàn hồi thành động mạch. Các dạng không xơ vữa của xơ cứng động mạch bao gồm: xơ cứng tiểu động mạch và xơ cứng động mạch Mönckeberg. Xơ vữa động mạch có thể ảnh hưởng đến tất cả các động mạch lớn và trung bình, bao gồm động mạch vành, động mạch cảnh và động mạch não; động mạch chủ và các nhánh cũng như các động mạch chi lớn. Do đó, xơ vữa động mạch không chỉ bao gồm bệnh mạch vành.
4. Vì sao bệnh nhân tiểu đường thường bị bệnh mạch vành?
Bệnh đái tháo đường làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh mạch vành, đột quỵ
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Bệnh mạch vành là một trong số biến chứng mạch máu lớn ở bệnh nhân đái tháo đường. Nguy cơ mắc biến chứng mạch vành của người bệnh đái tháo đường tăng gấp 2 – 4 lần so với người không mắc đái tháo đường. Tăng đường huyết mạn tính ở bệnh nhân bị đái tháo đường ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp lên hệ mạch máu toàn thân. Bệnh đái tháo đường gây ra tổn thương ở tế bào nội mạc, làm rối loạn chức năng mạch máu, kích thích hình thành mảng xơ vữa động mạch, hoặc nếu mảng xơ vữa đã có sẵn thì tiến triển rất nhanh, dẫn đến hẹp lòng mạch, trong đó có hệ động mạch vành. Ngoài ra, bệnh đái tháo đường tuýp 2 xảy ra trên cơ sở hội chứng chuyển hóa sẽ kéo theo tình trạng tăng đông, rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp. Những yếu tố này cộng gộp lại làm tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch nói chung và bệnh mạch vành nói riêng.
5. BS cho biết một số loại thuốc phổ biến được dùng để điều trị bệnh mạch vành?
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Có 2 nhóm thuốc chính được sử dụng trong điều trị bệnh mạch vành bao gồm: Thuốc chống đau ngực: như chẹn beta, chẹn kênh calci, nitrate, nicorandil, ranolazine, trimetazidine,… Thuốc giúp kéo dài đời sống: – Thuốc hạ mỡ máu: Giúp giảm cholesterol máu, hạn chế sự hình thành mảng xơ vữa. – Thuốc chống kết tập tiểu cầu: Ngăn chặn hình thành cục máu đông, giảm nguy cơ xảy ra nhồi máu cơ tim. – Thuốc ức chế men chuyển.
6. Những tác dụng không mong muốn khi dùng thuốc điều trị bệnh mạch vành là gì?
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Thuốc điều trị bệnh mạch vành chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi được dùng đúng bệnh với đúng liều lượng. Do vậy, thuốc có thể sẽ tốt với người này, nhưng chưa chắc đã tốt với người khác. Trường hợp bị bệnh mạch vành kèm theo những bệnh lý khác sẽ được bác sĩ chẩn đoán và đưa ra loại thuốc phù hợp nhất. Bên cạnh đó, thuốc không phải là kẹo, thuốc điều trị bệnh tim càng không phải là thuốc bổ, và bất kỳ thuốc nào cũng có các tác dụng phụ đi kèm của nó. Điều đó không đồng nghĩa là ai uống thuốc điều trị bệnh mạch vành đều sẽ đối diện với các tác dụng phụ của thuốc, mà chỉ có 1 tỉ lệ tương đối bệnh nhân gặp phải vấn đề này và khi đó bác sĩ sẽ chuyển đổi thuốc cho phù hợp. Đơn cử một số tác dụng phụ không mong muốn trong các thuốc điều trị bệnh mạch vành là: – Aspirin: đây là thuốc kháng kết tập tiểu cầu, giúp giảm nguy cơ hình thành cục máu đông trong lòng mạch gây nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, thuốc có thể ảnh hưởng lên dạ dày, gây đau dạ dày, viêm loét dạ dày. Khi người bệnh gặp tác dụng phụ này hoặc người bệnh đã có tiền căn loét dạ dày thì bác sĩ sẽ chọn thuốc kháng kết tập tiểu cầu khác ít ảnh hưởng lên dạ dày hơn, là clopidogel. – Nitrate: đây là thuốc dãn mạch, giảm co thắt mạch vành. Được chỉ định dùng điều trị hạ huyết áp, giảm đau ngực cho bệnh nhân, nhưng có thể có tác dụng phụ là chóng mặt, đau đầu…khi đó bác sĩ sẽ chuyển đổi sang nhóm thuốc giảm đau ngực khác cho bệnh nhân.
7. Khi nào bệnh mạch vành ở trong tình trạng cấp cứu?
Bệnh nhân lên cơn đau thắt ngực có cảm giác như tim bị bóp chặt, thắt nghẹt, đè ép trong lồng ngực.
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Người bị bệnh mạch vành khi rơi vào hội chứng vành cấp là cần phải can thiệp cấp cứu. Hội chứng vành cấp bao gồm nhồi máu cơ tim có ST chênh lên (STEMI), nhồi máu cơ tim không có ST chênh lên (NSTEMI) và cơn đau thắt ngực không ổn định. Các tình huống thường gặp gợi ý hội chứng vành cấp là: – Cơn đau thắt ngực mới xuất hiện. – Đau thắt ngực tăng lên (trên cơ sở bệnh nhân đã có tiền sử đau thắt ngực ổn định) có xu hướng lan tỏa kéo dài trên 20 phút, không giảm với nghỉ ngơi và dùng thuốc giãn mạch vành. – Đau thắt ngực xảy ra sau các biến cố hoặc thủ thuật như: Sau nhồi máu cơ tim, can thiệp động mạch vành, phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành, dù cho người bệnh không rõ triệu chứng đau mà chỉ là cảm giác tức nặng khó thở (đau thầm lặng). – Các triệu chứng nguy hiểm khác tương đương cơn đau thắt ngực: đột ngột khó thở, đau thượng vị liên tục không đáp ứng với điều trị theo hướng viêm dạ dày, tim đập không đều, đánh trống ngực, vã mồ hôi, tụt huyết áp, đột ngột mệt mỏi, mất nhận thức, người đột nhiên yếu đi, chóng mặt… mà không lý giải được nguyên nhân.
8. Bệnh động mạch vành không điều trị sẽ gây ra hậu quả như thế nào?
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Bệnh động mạch vành không điều trị có khả năng dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như: – Đột tử: khoảng 30 % – 50% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp bị đột tử trước khi đến bệnh viện. – Bệnh suy tim: do thiếu máu cục bộ cơ tim kéo dài hoặc sau nhồi máu cơ tim, làm tim to, co bóp kém, hở van tim. Hở van tim nặng do đứt dây chằng van tim, sa lá van, dãn vòng van hay tâm thất trái co bóp bất thường. Cuối cùng làm cho tim ngày càng to ra và suy tim tiến triển nặng thêm. – Rối loạn nhịp tim: như blốc nhĩ thất (cần đặt máy tạo nhịp), rung nhĩ (dễ đưa đến nhồi máu não), ngoại tâm thu thất do sẹo cơ tim nhồi máu; nguy hiểm hơn là nhịp nhanh thất hoặc rung thất đưa đến đột tử.
9. Bệnh mạch vành liệu có di truyền không BS?
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Bệnh mạch vành không phải là bệnh di truyền, nhưng là căn bệnh có yếu tố gia đình. Điều này có nghĩa là nếu có bố, mẹ hoặc anh chị em bị bệnh tim mạch sớm (trước 55 tuổi đối với nam, trước 65 tuổi đối với nữ) thì bạn có nguy cơ cao mắc bệnh mạch vành. Nghiên cứu cho thấy, người có cha hoặc mẹ bị bệnh mạch vành có nguy cơ phát triển bệnh này cao hơn 40-60%.
10. Có thể tầm soát bệnh mạch vành bằng cách nào?
Xét nghiệm mỡ máu là việc làm cần thiết giúp phát hiện và điều trị kịp thời bệnh động mạch vành.
BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Bệnh mạch vành có thể diễn biến tiềm tàng trong nhiều năm. Trong đa số trường hợp, các triệu chứng không được để ý cho đến khi động mạch vành bị hẹp nhiều đến một mức độ đáng kể. Nhiều khi bệnh mạch vành chỉ được biết đến khi đã xuất hiện biến chứng, bị nhồi máu cơ tim. Do đó, việc tầm soát bệnh là quan trọng, ngay cả khi chưa có triệu chứng nào của bệnh vì điều này giúp xác định các yếu tố nguy cơ ở giai đoạn sớm, nhờ vậy, có thể phòng ngừa bệnh bằng cách kiểm soát các yếu tố nguy cơ. Thông thường thì bác sĩ sẽ tầm soát bệnh mạch vành bằng cách đánh giá các yếu tố nguy cơ, từ đó sẽ có hướng xử trí tiếp theo như thay đổi lối sống và điều trị thuốc khi cần. Các kiểm tra cơ bản bao gồm: xét nghiệm mỡ máu, đo huyết áp, xét nghiệm đường huyết, đánh giá chỉ số khối cơ thể, đo chu vi vòng eo, đo điện tim, siêu âm tim lúc nghỉ. Các xét nghiệm chuyên sâu hơn như làm xét nghiệm gắng sức hoặc tiến hành chụp mạch vành cho những trường hợp có nguy cơ cao mắc bệnh mạch vành. Theo Hội Tim mạch Mỹ (American Heart Association – AHA), mọi xét nghiệm tầm soát bệnh mạch vành nên bắt đầu từ lúc 20 tuổi. Mức độ kiểm tra thường xuyên phụ thuộc vào mức độ nguy cơ của người bệnh. Có thể sẽ cần làm thêm các xét nghiệm kiểm tra khác hoặc kiểm tra lại định kỳ nếu được chẩn đoán có những tình trạng tim mạch như suy tim, rung nhĩ, hoặc có tiền căn nhồi máu cơ tim, đột quỵ, hoặc những tiền căn bệnh tim mạch khác.
Benhdotquy.net
Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?
Một gói thuốc được quảng cáo “chống đột quỵ cấp tốc”, vài lời truyền miệng trên mạng xã hội và niềm tin rằng có thể “câu giờ” trước khi đến bệnh viện – tất cả đang tạo nên một xu hướng nguy hiểm: người nhà tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc đột quỵ ngay tại nhà hoặc thậm chí ngay trong phòng cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, hành động tưởng như cứu người này có thể khiến bệnh nhân mất cơ hội sống.
Multimedia
Theo dõi trên:Video
Chóng mặt kéo dài, coi chừng đột quỵ: Bác sĩ cảnh báo dấu hiệu dễ nhầm lẫn
Chóng mặt là triệu chứng rất phổ biến, nhưng không phải lúc nào cũng vô hại. Trong nhiều trường hợp, đây có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của đột quỵ, đặc biệt khi kéo dài, dữ dội hoặc kèm theo các biểu hiện bất thường. Các bác sĩ khuyến cáo người dân cần nhận biết đúng để tránh nhầm lẫn nguy hiểm và không bỏ lỡ “thời gian vàng” điều trị.
Sống sót sau đột quỵ, làm gì để không bị lần 2?
Giới trẻ và đột quỵ: Khi lối sống hiện đại trở thành sát thủ âm thầm
Giải mã mối quan hệ nguy hiểm giữa đái tháo đường và đột quỵ
Phòng Tránh Đột Quỵ – Bắt Đầu Từ 5 Bài Tập Đơn Giản
Ngăn đột quỵ ngay từ phút đầu – Những điều nên biết
7 tình huống khiến đường huyết tăng vọt có thể bạn chưa biết















">
">
"> 
