15 yếu tố nguy cơ tim mạch làm tăng khả năng đột quỵ

Theo BS.CK1 Cao Thị Lan Hương – bệnh viện Trưng Vương, người mắc bệnh mạch tim mạch sẽ có khả năng bị đột quỵ trong tương lai, và ngược lại. Vì vậy, nếu một người có các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng lên mạch máu ở tim thì cũng sẽ tác động lên mạch máu ở não, gây ra nguy hiểm.

05-08-2022 09:56
Theo dõi trên |

1. Bệnh tim mạch và đột quỵ là gì?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Bệnh tim mạch (CVD) là bệnh lý của tim và mạch máu. Bệnh tim mạch bao gồm bệnh mạch vành (nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim), tăng huyết áp tăng (cao huyết áp), bệnh động mạch ngoại biên, bệnh van tim, bệnh tim bẩm sinh, suy tim…vàtai biến mạch máu não (đột quỵ). Đột quỵ, còn gọi là tai biến mạch máu não, là tình trạng xảy ra do tắc nghẽn dòng máu nuôi lên não do huyết khối chèn ép cản trở mạch máu hoặc do rò, vỡ mạch máu gây xuất huyết. Mặc dù đột quỵ là bệnh xảy ra ở não, nhưng bản chất là bệnh lý của mạch máu của não, cho nên vẫn thuộc về nhóm bệnh tim mạch (tim và mạch).

2. Bệnh tim mạch và đột quỵ có liên quan gì với nhau?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Như đã trình bày ở trên, đột quỵ mặc dù là bệnh xảy ra ở não, nhưng bản chất là bệnh lý của mạch máu của não. Cho nên có trường phái xếp đột quỵ thuộc về nhóm bệnh tim mạch (tim và mạch). Cũng có trường phái tách riêng hai bệnh này, bệnh đột quỵ riêng và bệnh tim mạch riêng, vì có sự khác biệt về mặt triệu chứng và cách điều trị do là 2 cơ quan khác nhau, nhưng chúng vẫn liên quan mật thiết với nhau trong mối quan hệ về nguyên nhân gây bệnh và về yếu tố nguy cơ gây bệnh. Chúng ta có 2 loại đột quỵ là đột quỵ do thiếu máu và đột quỵ do xuất huyết Đột quỵ do thiếu máu cục bộ chiếm khoảng 85% tổng số các ca bị đột quỵ hiện nay. Đây là tình trạng đột quỵ do các cục máu đông làm tắc nghẽn động mạch, cản trở quá trình máu lưu thông lên não.Có bốn lý do tại sao điều này có thể xảy ra: – Huyết khối (tắc nghẽn động mạch não do cục máu đông hình thành từ mảng xơ vữa trong lòng mạch). Xơ vữa động mạch có thể gây tắc nghẽn ở động mạch vành gây thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, có thể gây tắc nghẽn ở động mạch cảnh, động mạch chi dưới…thuộc cây động mạch trong hệ thống tim mạch. – Thuyên tắc mạch (tắc nghẽn động mạch não do cục máu đông đến từ nơi khác trong cơ thể). Tắc mạch thường phát sinh nhất từ tim (đặc biệt là trong rung nhĩ) nhưng có thể bắt nguồn từ nơi khác trong cây động mạch. Trong thuyên tắc nghịch lý, huyết khối tĩnh mạch sâu gây tắc nghẽn qua lỗ thông liên nhĩ hoặc thông liên thất ở tim vào não. – Giảm tưới máu toàn thân (giảm cung cấp máu nói chung, ví dụ như sốc, suy tim) – Huyết khối xoang tĩnh mạch não. Đột quỵ do xuất huyết, hay còn gọi là xuất huyết não: Đột quỵ do xuất huyết là tình trạng mạch máu đến não bị vỡ khiến máu chảy ồ ạt gây xuất huyết não. Nguyên nhân thường gặp nhất là do tăng huyết áp, tiếp đến là dị dạng mạch máu nội sọ. Như vậy, một số nguyên nhân gây ra đột quỵ là từ bệnh lý tim mạch.Đồng thời đột quỵ sẽ là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch trong tương lai, và người bệnh tim mạch cũng sẽ là yếu tố nguy cơ của bệnh đột quỵ trong tương lai. Bởi vì yếu tố nguy cơ ảnh hưởng lên mạch máu ở tim (yếu tố nguy cơ tim mạch) thì cũng sẽ ảnh hưởng lên mạch máu ở não (yếu tố nguy cơ đột quỵ). Và khi có biến cố xảy ra ở một mạch máu nào trong cơ thể, đó là dự báo cho nguy cơ xảy ra biến cố ở một mạch máu khác trong cơ quan khác. >>> Xem thêm: Bệnh tim mạch và đột quỵ có liên quan gì?

Theo BS Lan Hương, tăng huyết áp là nguyên nhân khiến các động mạch trên toàn cơ thể có thể bị vỡ hoặc dễ bị tắc nghẽn hơn. Theo BS Lan Hương, tăng huyết áp là nguyên nhân khiến các động mạch trên toàn cơ thể có thể bị vỡ hoặc dễ bị tắc nghẽn hơn.

3. Có phải ai mắc bệnh tim mạch đều sẽ bị đột quỵ?

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương: Không phải ai mắc bệnh tim mạch đều sẽ bị đột quỵ. Thứ nhất, bệnh tim mạch là một tập hợp rất lớn gồm nhiều loại bệnh lý thuộc về tim mạch, mặc dù một số nguyên nhân gây ra đột quỵ là từ bệnh lý tim mạch, thế nhưng không phải tất cả các loại bệnh tim mạch đều làm gia tăng nguy cơ đột quỵ. Đơn cử 1 số bệnh lý tim mạch không dẫn đến đột quỵ nãonhư hội chứng Brugada, hội chứng QT kéo dài… Thứ hai, mặc dù bệnh tim mạch là yếu tố nguy cơ của bệnh đột quỵ, nhưng yếu tố nguy cơ có nghĩa là yếu tố đó làm gia tăng khả năng xảy ra sự kiện đó, chứ không phải chắc chắn sẽ dẫn đến sự kiện đó. Nhiều người có bệnh tăng huyết áp nhưng kiểm soát tốt huyết áp và các yếu tố nguy cơ khác (như mỡ máu, đường huyết…) thì đến cuối đời cũng có thể chưa gặp biến cố đột quỵ não lần nào.

4. Những yếu tố nguy cơ tim mạch làm tăng khả năng đột quỵ và cách phòng tránh?

Có khoảng 15 yếu tố nguy cơ gây đột quỵ não, chúng được chia vào 2 nhóm:

4.1 Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi

– Tuổi tác: Mặc dù hiện nay người trẻ tuổi cũng có thể bị đột quỵ, nhưng nguy cơ đột quỵ tăng gấp đôi mỗi 10 năm kể từ tuổi 55. – Giới tính: Nam giới có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn nữ giới một chút. – Chủng tộc: Theo các số liệu thống kê cho thấy người Mỹ gốc Phi có nguy cơ đột quỵ cao hơn gần gấp đôi so với người da trắng. – Tiền sử gia đình: nếu trong gia đình bạn từng có người bị đột quỵ thì bạn có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn. – Bệnh lý dị dạng mạch máu não: Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nên đột quỵ xuất huyết não ở những người trẻ tuổi. Sự phát triển bất thường của mạch máu não có thể hình thành những túi phình với thành mạch máu mỏng, đây là nguyên nhân có thể gây đột quỵ xuất huyết não.Hoặc mạch máu có thể bị bóc tách gây hẹp, tắc mạch dẫn tới đột quỵ nhồi máu não. Mặc dù chúng ta không thể thay đổi được các yếu tố này. Tuy nhiên, việc nhận thức về vấn đề này cung cấp thông tin về những đối tượng cần đề cao công tác dự phòng. Ví dụ như với dị dạng mạch máu não, hiện tại chúng ta vẫn chưa có biện pháp nào thực sự hiệu quả để dự phòng dị dạng mạch não. Tuy nhiên, những bất thường mạch máu não có thể được phát hiện sớm qua chụp cắt lớp vi tính tương phản mạch máu não, hoặc chụp cộng hưởng từ mạch máu não.

4.2 Các yếu tố nguy cơ thay đổi được

Có 4 yếu tố nguy cơ hàng đầu gây đột quỵ não là tăng huyết áp; đái tháo đường; béo thể trung tâm (béo bụng) và rối loạn lipid máu. Ngoài ra còn nhiều yếu tố nguy cơ có thể thay đổi khác như: nghiện rượu, hút thuốc lá, cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua, các bệnh lý tim mạch… – Tăng huyết áp Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ não, nó làm tổn thương thành động mạch và có thể làm tăng hoạt động đông máu, dẫn đến sự hình thành các cục máu đông gây đột quỵ nhồi máu não. Gọi là tăng huyết áp nếu huyết áp ≥ 140/90mmHg Việc phát hiện tăng huyết áp khá đơn giản bằng thao tác đo huyết áp mà bất kỳ nhân viên y tế nào cũng thực hiện được. Mọi người cũng có thể tự kiểm tra huyết áp bằng một máy đo huyết áp tự động có trên thị trường. Tuy nhiên, một tỷ lệ khá cao dân chúng lại không có ý thức quan tâm đến vấn đề này. Hậu quả là nhiều người để huyết áp tăng cao một thời gian dài không điều trị, đến khi gây biến chứng (ví dụ đột quỵ não) thì hậu quả rất nặng nề. Việc kiểm soát huyết áp giúp giảm nguy cơ đột quỵ một cách đáng kể, vì tăng huyết áp có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ từ hai đến sáu lần. Việc kiểm soát huyết áp có thể chỉ bằng lối sống lành mạnh, ăn uống khoa học, cũng có cần sử dụng tới các thuốc hạ áp. – Đái tháo đường Đái tháo đường làm tăng nguy cơ mắc đột quỵ não từ 2-6,5 lần, tăng tỷ lệ tử vong lên 2 lần. Cũng giống như tăng huyết áp, đái thái đường làm tổn thương thành động mạch và có thể làm tăng hoạt động đông máu, dẫn đến sự hình thành các cục máu đông gây đột quỵ nhồi máu não. Triệu chứng biểu hiện bệnh đái tháo đường giai đoạn sớm thường rất mờ nhạt hoặc hầu như không có gì. Một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân có biểu hiện ăn nhiều, uống nhiều, gầy sút cân nhanh. Cho nên, mọi người cần định kỳ khám xét nghiệm kiểm tra đường máu. Bệnh nhân đái tháo đường có thể tự xét nghiệm đường máu tại nhà bằng các loại máy xét nghiệm đường máu. Việc kiểm soát tốt đường huyết sẽ giúp giảm nguy cơ đột quỵ. – Rối loạn lipid máu Khi hàm lượng lipid trong máu quá cao là điều kiện thuận lợi để lipid “ngấm” vào và lắng đọng ở thành mạch máu. Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành mảng xơ vữa động mạch. Mảng xơ vữa hình thành trong lòng động mạch sẽ làm chít hẹp dần lòng mạch có thể gây tắc mạch. Nhiều trường hợp mảng xơ vữa bong ra, trôi theo dòng máu, đến gây tắc ở vị trí mạch máu khác. Có khoảng từ 50-60% bệnh nhân trẻ tuổi bị nhồi máu não có rối loạn chuyển hóa mỡ máu, có sự khác biệt nhẹ giữa nam và nữ, trong đó nam giới hay gặp hơn nữ. Người trẻ tuổi với thói quen ăn uống có hại sức khỏe như ăn quá nhiều thức ăn nhanh, sử dụng các thực phẩm chế biến sẵn…, ngày càng đối diện với các bệnh lý mạch máu lớn và nhỏ sớm hơn như bệnh lý đột quỵ, tim mạch. – Thừa cân béo phì và lười vận động Béo phì là yếu tố thuận lợi góp phần làm tăng huyết áp, rối loạn lipid và tăng glucose máu. Tất cả các yếu tố này kết hợp lại sẽ làm tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch. Trong các thể béo phì, thể béo bụng có liên quan với hội chứng chuyển hóa chặt chẽ hơn cả. Lối sống ngồi yên ít vận động làm gia tăng nguy cơ đột quỵ ở người trẻ tuổi.Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế kéo theo đó là chế độ ăn ít lành mạnh hơn. Giới trẻ ngày càng thích ngồi trước màn hình máy tính hoặc sử dụng điện thoại di động hơn là tham gia các hoạt động thể dục, thể thao. Từ đó làm nguy cơ đột quỵ ở người trẻ tuổi có xu hướng tăng dần. Các nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy khoảng 10% các bệnh nhân trẻ tuổi đột quỵ có thừa cân (chỉ số khối cơ thể BMI >30). – Hút thuốc lá Hút thuốc lá làm tăng gấp đôi nguy cơ đột quỵ. Bên cạnh việc gây hại cho phổi, hút thuốc cũng làm tổn thương thành mạch máu, làm tăng quá trình xơ cứng động mạch, khiến cho tim phải làm việc nhiều hơn và làm tăng huyết áp. Bởi trong thuốc lá có chứa khoảng 7000 chất độc hóa học như carbon monoxide, arsenic, formaldehyde và cyanide. Những chất độc này được sau khi hấp thu vào phổi sẽ được vận chuyển vào máu làm thay đổi và phá hủy các tế bào trong cơ thể. Theo số liệu thống kê cho thấy có đến khoảng 50% số bệnh nhân đột quỵ trẻ tuổi có hút thuốc lá. Những nghiên cứu mới nhất cho thấy có sự tương quan giữa số lượng thuốc lá hút mỗi ngày và nguy cơ đột quỵ não. Việc thay đổi nhận thức về hành vi hút thuốc của người trẻ chưa bao giờ là dễ dàng. Những nghiên cứu này đang gióng thêm một hồi chuông cảnh báo cho những người đã và đang hút thuốc lá. Không chỉ những người hút thuốc lá trực tiếp, mà cả những người hút thuốc lá thụ động (hít phải khói thuốc lá) cũng chịu những ảnh hưởng xấu. Hút thuốc lá thụ động cũng làm tăng nguy cơ đột quỵ của một người. Tin tốt là, cho người đang hút thuốc lá đó là nếu họ dừng hút thuốc hôm nay, trong vòng hai đến năm năm sau, nguy cơ đột quỵ của họ sẽ giảm xuống phân nửa.

Từ bỏ thuốc lá và rượu bia để phòng tránh nguy cơ đột quỵ Từ bỏ thuốc lá và rượu bia để phòng tránh nguy cơ đột quỵ

– Uống rượu nhiều Mặc dù rượu vang đỏ đã được chứng minh là có lợi cho tim mạch, nhưng không phải ai cũng có thể uống, nhất là khi uống với lượng nhiều hơn khuyến nghị. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những người uống 10 ly rượu trở lên mỗi tuần sẽ tử vong sớm hơn từ 1 – 2 năm so với những người uống ít hơn 5 ly mỗi tuần. Nguyên nhân là rượu chứa chất có khả năng gây độc cho tim, làm suy yếu cơ tim, tăng nguy cơ mắc chứng loạn nhịp tim như rung nhĩ, gây tăng huyết áp, xơ vữa động mạch. Ngoài ra, uống rượu nhiều trong thời gian dài có thể gây tổn thương gan, suy gan gây rối loạn đông máu. Theo các nghiên cứu cho thấy việc uống rượu bia, đặc biệt là rượu nặng có liên quan chặt chẽ đến sự tăng lên của bệnh lý xuất huyết não ở bệnh nhân trẻ tuổi. – Rung nhĩ Bình thường, cả bốn buồng tim đập theo cùng một nhịp, tần số khoảng 60 đến 100 lần một phút. Ở người bị rung nhĩ, nhĩ trái có thể đập nhanh hơn và không kiểm soát được lên đến 400 lần một phút. Nhĩ trái rung lên chứ không co bóp nhịp nhàng nữa, máu trong buồng nhĩ chảy xoắn và tồn đọng sẽ gia tăng hình thành cục máu đông trong buồng nhĩ. Cục máu đông nếu lỡ trôi xuống thất trái và đi vào động mạch chủ lên não sẽ gây ra đột quỵ nhồi máu não khi nó mắc  kẹt lại tại một mạch máu não có đường kính nhỏ hơn. Nếu không được điều trị, rung nhĩ có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ từ 4 đến 6 lần. Tình trạng này có thể được điều chỉnh bằng thuốc hoặc phẫu thuật. – Đột quỵ tái phát Một người có tiền sử đột quỵ sẽ có nguy cơ cao bị một lần đột quỵ khác. Nguy cơ này kéo dài trong khoảng năm năm và sau đó giảm dần theo thời gian. Nguy cơ cao nhất là trong vòng vài tháng đầu tiên sau lần đột quỵ trước. Những người đã từng bị đột quỵ có thể hưởng lợi từ các loại thuốc kê đơn để giảm nguy cơ đột quỵ của mình. – Cơn thiếu máu não thoáng qua (đột quỵ nhẹ) Một người bị một cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) sẽ cơ nguy cơ bị đột quỵ lớn trong tháng, thường là trong hai ngày. Các loại thuốc, bao gồm aspirin có thể được kê đơn để giúp ngăn ngừa cơn đột quỵ trong tương lai.

5. Cách phòng ngừa bệnh tim mạch? Người mắc bệnh làm sao hạn chế nguy cơ bị đột quỵ?  

Cách đơn giản giúp phòng ngừa bệnh tim mạch đó là: – Ngưng hút thuốc lá, tránh hút thuốc lá thụ động – Thể dục thường xuyên, tối thiểu 30 – 45 phút mỗi ngày, các ngày trong tuần. Có thể đi bộ, chạy bộ, chạy xe đạp, bơi lội, đánh cầu lông, bóng bàn, đánh golf, tập yoga, thể dục nhịp điệu, thiền,..tùy theo tình trạng sức khỏe mỗi người; tránh căng thẳng trong cuộc sống và công việc. – Giảm cân nếu dư cân, béo phì (khi BMI >23): đặt mục tiêu giảm từ 5% đến 7% cân nặng trong vòng mỗi 6 tháng đến khi đạt cân nặng lý tưởng (BMI từ 18 – 22) – Chế độ ăn tốt cho tim mạch: + Ăn ít chất béo, thịt mỡ, chất bột đường, thực phẩm đóng hộp, thức ăn nhanh, hạn chế muối, giảm rượu bia. + Nên ăn cá, thịt gia cầm; nên ăn nhiều trái cây, rau, củ, quả, hạt, thực phẩm tươi sống, organic. – Khám sức khỏe tầm soát bệnh tim mạch: Bốn yếu tố nguy cơ hàng đầu của bệnh lý tim mạch và đột quỵ là hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường và rối loạn mỡ máu. Mà thông thường, chúng sẽ diễn biến tiềm tàng trong nhiều năm mà không có bất kỳ triệu chứng nào. Theo nghiên cứu mới nhất của Viện Tim mạch Việt Nam, tỷ lệ người Việt Nam trưởng thành (>18 tuổi) mắc tăng huyết áp là gần 50%, nghĩa là cứ 2 người trưởng thành có 1 người bị tăng huyết áp. Một con số thực sự báo động. Cho nên, bắt đầu từ tuổi 20, bạn nên có kế hoạch đi khám sức khỏe định kỳ và theo dõi các chỉ số sức khỏe bản thân, ngay cả khi bạn cảm thấy thực sự khỏe mạnh. Với những người đã mắc bệnh tim mạch, thì để hạn chế nguy cơ đột quỵ, cần tuân thủ lối sống lành mạnh như trên kèm với – Kiểm soát tốt bệnh lý đi kèm: điều trị huyết áp, kiểm soát đường huyết, lipid máu. – Có biện pháp phòng ngừa tiên phát đột quỵ ở một số đối tượng đặc biệt: dùng thuốc kháng đông trọn đời ở những người bị thấp tim hoặc mang van tim nhân tạo ở bên tim trái. Cân nhắc khả năng dùng thuốc kháng đông ở người bị rung nhĩ mạn tính. Tiến hành đặt stent động mạch cảnh khi hẹp trên 75%, hoặc mổ bóc nội mạc động mạch cảnh, nút coils phình mạch, nút ổ dị dạng động tĩnh mạch (AVM) để tránh nguy cơ nhồi máu não hoặc chảy máu não. Tiến hành can thiệp mạch thần kinh khi có hẹp động mạch trên 50%, hoặc phình động mạch não.

Benhdotquy.net

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Tự mua “thuốc chống đột quỵ” trên mạng: Cứu người hay đẩy bệnh nhân vào cửa tử?

Một gói thuốc được quảng cáo “chống đột quỵ cấp tốc”, vài lời truyền miệng trên mạng xã hội và niềm tin rằng có thể “câu giờ” trước khi đến bệnh viện – tất cả đang tạo nên một xu hướng nguy hiểm: người nhà tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc đột quỵ ngay tại nhà hoặc thậm chí ngay trong phòng cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, hành động tưởng như cứu người này có thể khiến bệnh nhân mất cơ hội sống.

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ