MRI giúp xác định đặc điểm mất chức năng thị lực ở những người sống sót sau đột quỵ

Suy giảm thị lực sau đột quỵ là một tình trạng khá phổ biến. Theo Rowe và các đồng nghiệp, khoảng 2/3 số người sống sót sau đột quỵ bị giảm thị lực ở một nửa tầm nhìn của họ.

19-02-2022 11:01
Theo dõi trên |

Theo nghiên cứu mới, MRI giúp xác định đặc điểm mất chức năng thị lực ở những người sống sót sau đột quỵ. (Ảnh minh hoạ)

Giả thiết cho rằng mất thị lực là kết quả của tổn thương hoàn toàn các tế bào thần kinh trong vùng vỏ não chịu trách nhiệm về thị lực, vì vậy bệnh nhân thường được tư vấn rằng họ rất có thể sẽ mất thị lực vĩnh viễn. Đây có thể là một tin tức khá sốc đối với những người đang hồi phục sau cơn đột quỵ.

Nhưng nghiên cứu mới đây cho thấy rằng, trong một số trường hợp, não vẫn phản ứng với các kích thích thị giác, mặc dù bệnh nhân không thể “nhìn thấy” phần thị giác đó một cách có ý thức. Sử dụng hình ảnh đa phương thức, bao gồm cả chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI), các nhà nghiên cứu đã có thể chứng minh một phương pháp xác định đặc điểm của sự mất chức năng và giải phẫu ở những người sống sót sau đột quỵ. Theo Humphrey perimetry, ba trong số bốn người sống sót sau cơn đột quỵ đã được kiểm tra, các tác giả nhận thấy hoạt động chức năng còn sót lại trong các phần của não được xác định là u xơ cứng.

Trước đây đã từng ghi nhận những trường hợp “mù mờ”. Tuy nhiên, tiềm năng sử dụng công nghệ MRI để giúp phân tích mức độ tổn thương và hướng dẫn các nỗ lực phục hồi chức năng là rất thú vị.

Phép đo chu vi tiêu chuẩn có thể xác định phần nào của trường thị giác bị thiếu, nhưng nó không cung cấp bức tranh toàn cảnh về phần thiếu hụt. Nếu sự mất thị lực là do mất chất não thực sự như chúng ta vẫn nghĩ thì nó không thể lấy lại được. Nhưng nếu chỉ có một “liên kết bị đứt gãy” ở đâu đó trong đường dẫn thị giác, thì có thể phục hồi các vùng não vẫn đang tiếp nhận thông tin đầu vào, do đó khôi phục một số mức độ chức năng.

Trong số 4 cá nhân bị mất trường thị giác mà các tác giả đã chụp ảnh được trong nghiên cứu này, hai người bị mất một nửa thị giác và hai người chỉ mất một góc phần tư của trường thị giác. Các bệnh nhân có độ tuổi từ 33 – 73 tuổi và có kích thước tổn thương, vị trí và số lượng chức năng còn lại khác nhau.

Một người sống sót sau cơn đột quỵ cho thấy khá nhiều chức năng còn sót lại trong não so với những người tham gia khác. Người tham gia đó là người trẻ nhất trong nhóm, vì vậy có thể não trẻ hơn dẻo hơn. Tuy nhiên, bệnh nhân lớn tuổi hơn cũng có chức năng còn sót lại đáng kể.

Một trong những điều đầu tiên nhóm tác giả nhận thấy khi chụp MRI là sự thay đổi giải phẫu trong não không nhất thiết tương quan với mức độ mất trường thị giác. Ví dụ, một bệnh nhân có một tổn thương rất lớn trong não chỉ có một phần tư nhỏ.

Các nhà nghiên cứu đã chụp ảnh nhiều vùng của não liên quan đến thị giác và xử lý hình ảnh để xác định vùng nào đang phản ứng tích cực với các kích thích thị giác. Điều này có thể giúp xác định vị trí nào cần nhắm mục tiêu để phục hồi chức năng và loại nhiệm vụ hoặc kích thích thị giác nào sẽ hữu ích nhất.

Ví dụ, hoạt động ở vùng não nhạy cảm với chuyển động có thể chỉ ra một biện pháp can thiệp khác với hoạt động ở vùng nhạy cảm với màu sắc hoặc khuôn mặt. MRI đa phương thức có thể thông báo cho các bác sĩ lâm sàng và các nhà nghiên cứu để các “kênh” cụ thể đó có thể được sử dụng để xây dựng một chương trình phục hồi được cá nhân hóa.

Trong khi vẫn còn nhiều điều phải học, nghiên cứu này sẽ mang lại cho những người sống sót sau đột quỵ một số hy vọng. Việc kết hợp MRI – và công nghệ có thể tiếp cận và tương đối rẻ tiền – vào chẩn đoán và tiên lượng có thể chuyển đổi can thiệp đột quỵ và góp phần tạo ra y học cá nhân hóa, hiệu quả hơn.

T.N, theo Healio.com

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ