Biến chứng tim mạch nào chờ đợi người bệnh đái tháo đường?

Nguyên nhân tử vong do căn nguyên tim mạch chiếm tới 70% ở các bệnh nhân đái tháo đường (tiểu đường). Vậy, có cách nào giúp người bệnh đái tháo đường tránh được biến chứng tim mạch? BS.CK1 Cao Thị Lan Hương sẽ giải đáp vấn đề này.

08-12-2022 10:48
Theo dõi trên |

1. Người bệnh đái tháo đường (tiểu đường) có thể gặp những biến chứng nào của tim mạch?

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh nội tiết, rối loạn chuyển hoá đặc trưng bởi sự tăng glucose máu mạn tính do hậu quả của sự tiết insulin không đầy đủ hoặc đề kháng với insulin tiết ra hoặc cả hai.

Bệnh tiến triển mạn tính dẫn đến rối loạn và suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là tim, mắt, thận, não. Trong số các biến chứng do bệnh ĐTĐ gây nên, biến chứng tim mạch là phổ biến nhất.

Nguyên nhân tử vong do căn nguyên tim mạch chiếm tới 70% ở các bệnh nhân ĐTĐ. Bệnh không lây nhưng có xu hướng tăng nhanh và bùng phát ở thế kỷ 21 đặc biệt ở các nước đang phát triển.

Bệnh đái tháo đường làm tăng nguy cơ tiến triển đến tăng huyết áp, xơ vữa động mạch. Theo đó, những biến chứng tim mạch do bệnh đái tháo đường dẫn đến bao gồm: bệnh động mạch vành (bệnh tim thiếu máu cục bộ, nhồi máu cơ tim), bệnh lý mạch máu não (chủ yếu là gặp tai biến mạch máu não (hay đột quỵ não) biểu hiện bằng nhồi máu não hoặc xuất huyết não), bệnh động mạch ngoại biên.

>>> Xem thêm: Bệnh động mạch ngoại biên (PAD): Chẩn đoán, điều trị và các biến chứng

2 Bản thân người bệnh đái tháo đường có dễ phát hiện biến chứng tim mạch dựa vào các dấu hiệu không?

Biến chứng tim mạch ở người bệnh ĐTĐ thường khó nhận biết.

Bệnh mạch vành xuất hiện trên bệnh nhân ĐTĐ thường có triệu chứng không điển hình. Nhồi máu cơ tim có thể không đau hoặc thiếu máu cơ tim thầm lặng. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy tổn thương mạch máu ở người ĐTĐ thường lan tỏa, nhiều mạch máu cùng bị và tương đối phức tạp nên việc điều trị can thiệp cũng gặp nhiều khó khăn hơn.

Theo các chuyên gia can thiệp mạch máu thì đặc điểm tổn thương mạch vành ở bệnh nhân ĐTĐ làm cho việc can thiệp có tỉ lệ thành công thấp hơn so với nhóm bệnh nhân không có ĐTĐ.

Biểu hiện sớm của tổn thương mạch máu ngoại biên là dấu hiệu “đi cà nhắc cách hồi”, nghĩa là người bệnh thấy đau, mỏi chân hay chuột rút khi đi bộ; sau khi nghỉ ngơi, các dấu hiệu hết đi, bệnh nhân lại có thể tiếp tục đi được cho đến khi lại xuất hiện lại các triệu chứng đau.

Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân ĐTĐ không cảm nhận được triệu chứng này, cho đến khi mạch máu hẹp nặng, tắc hoàn toàn gây hoại tử khô, thâm đen đầu chi thì đã muộn, bệnh nhân phải chịu cảnh mất ngón chân, nặng hơn là cắt cụt chi.

BS.CK1 Cao Thị Lan Hương hướng dẫn người bệnh đái tháo đường nhận biết và phòng tránh biến chứng tim mạchBS.CK1 Cao Thị Lan Hương hướng dẫn người bệnh đái tháo đường nhận biết và phòng tránh biến chứng tim mạch

3. Những yếu tố thúc đẩy biến chứng tim mạch ở người bệnh đái tháo đường  là gì?

Những yếu tố thúc đẩy biến chứng tim mạch ở người bệnh ĐTĐ là những yếu tố mà khi kết hợp với ĐTĐ sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch lên nhiều lần. Càng nhiều yếu tố kết hợp, tỷ lệ biến chứng tim mạch càng tăng mạnh. Các yếu tố đó gồm:
– Tuổi cao (≥60 tuổi; càng cao tuổi, nguy cơ càng tăng).
– Tăng huyết áp
– Rối loạn lipid máu (tăng cholesterol; triglycerid máu hoặc kết hợp).
– Béo phì (đặc biệt là béo bụng)
– Nghiện thuốc lào, thuốc lá
– Tình trạng ít vận động
– Tiền sử gia đình có người chết vì nhồi máu cơ tim.
Trong số này, có 2 yếu tố không thể tác động được. Đó là tuổi cao và tiền sử gia đình; các yếu tố còn lại đều có thể tác động làm thay đổi được.

Chính vì vậy, khi điều trị bệnh ĐTĐ, không bao giờ được bỏ quên tác động vào các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được, đặc biệt là thói quen hút thuốc lá, ít vận động.

4. Vì sao người bệnh đái tháo đường là phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh tỷ lệ biến chứng tim mạch sẽ tăng cao?

Biến chứng tim mạch tăng cao ở phụ nữ bước vào thời kỳ mãn kinh là do mất vai trò bảo vệ của nội tiết tố nữ estrogen, ở người có hay không có mắc đái tháo đường đều như vậy.

Từ lúc dậy thì cho đến trước giai đoạn mãn kinh, cơ thể người phụ nữ tiết ra một loại nội tiết tố nữ, gọi là estrogen – “hormone kỳ diệu” bởi vì nó tạo ra những đặc trưng của giới tính nữ. Bên cạnh tác dụng giúp phái nữ phát triển hoàn thiện về hình thái và chức năng sinh lý thì nó còn tác động tới nhiều cơ quan khác của cơ thể, giúp bảo vệ hệ tim mạch, các tế bào thần kinh, tham gia điều hòa hoạt động của các cơ quan trong cơ thể.

Đối với hệ tim mạch, estrogen đóng vai trò như một “chiến binh” bảo vệ thành động mạch, điều hòa quá trình vận chuyển ion trong lòng mạch, đặc biệt là tăng đưa oxy vào trong tế bào. Nhờ vậy nó giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch do ức chế quá trình oxy hóa các lipoprotein tỷ trọng thấp trong máu.

Chúng ta đều biết cơ chế gây ra xơ vữa động mạch là do sự tích tụ mỡ trong lòng mạch gây xơ và chít hẹp lòng mạch, nguy hiểm hơn nếu mảng xơ vữa nứt ra sẽ tạo thành huyết khối và gây tắc mạch, đặc biệt là mạch máu não và thần kinh. Estrogen sẽ giải quyết vấn đề này do nó ngăn cản sự tạo huyết khối.

Tác động tiếp theo của estrogen là giảm nguy cơ tăng huyết áp do giảm sức căng cơ trơn thành mạch, giúp giãn mạch. Chính vì vậy mà trong giai đoạn mãn kinh khi hàm lượng estrogen suy giảm thì phụ nữ sẽ gia tăng các nguy cơ về bệnh lý tim mạch.

5. Biến chứng tim mạch ở người bệnh đái tháo đường được điều trị bằng những phương pháp nào?

Điều trị biến chứng tim mạch ở người bệnh ĐTĐ hàng đầu là kiểm soát tốt lượng đường trong máu theo khuyến cáo của Hội Nội tiết ĐTĐ Việt Nam: căn cứ vào kết quả xét nghiệm đường máu lúc đói và nồng độ HbA1C. Tùy theo lứa tuổi và tình trạng bệnh lý kết hợp; nhìn chung phải đảm bảo lượng đường máu lúc đói ≤7,0-7,5 mmol/l và HbA1C ≤6,5-7%. Đây là vấn đề mấu chốt nhất, nếu không kiểm soát tốt được đường glucose máu, sẽ không thể khống chế được các biến chứng của ĐTĐ.

Tiếp theo đó là điều trị ổn định huyết áp, mỡ máu.

Sử dụng các thuốc giúp giảm nguy cơ hình thành huyết khối, giảm kích thước mảng xơ vữa động mạch, các thuốc giãn mạch; đó là các thuốc chống kết tập tiểu cầu (aspirin, clopidogrel), statin, fibrate, niacin, cilostazol.

Điều trị can thiệp: gồm can thiệp qua da hoặc phẫu thuật.

Can thiệp động mạch qua da (PCI): Nong đoạn động mạch vành hay đoạn động mạch chi dưới bị hẹp, đặt stent để tái lưu thông máu lại bình thường mà không phải mổ.

Phẫu thuật bắc cầu mạch máu: Bác sĩ dùng một đoạn động hoặc tĩnh mạch ở vị trí khác trên cơ thể để nối từ nguồn cung cấp máu đến đoạn động mạch phía sau đoạn động mạch bị hẹp. Tĩnh mạch, động mạch ghép có thể lấy ở chân, cổ tay, động mạch vú bên trong thành ngực.

>>> Xem thêm: Phẫu thuật bắc cầu mạch vành: Giải pháp giảm nhồi máu cơ tim

6. Thuốc điều trị đái tháo đường và thuốc điều trị biến chứng tim mạch có thể uống cùng lúc hay phải cách thời gian ra?

Thuốc điều trị biến chứng tim mạch hầu hết là uống sau ăn.

Các thuốc điều trị đái tháo đường thì có thuốc dùng trước bữa ăn 15 phút, có thuốc dùng trong bữa ăn và thuốc uống sau bữa ăn. Những thuốc nào bác sĩ dặn uống sau bữa ăn thì người bệnh có thể uống cùng lúc với các thuốc điều trị biến chứng tim mạch.

7. Với người bệnh đái tháo đường đang điều trị, bao lâu nên kiểm tra sức khỏe tim mạch?

Với người bệnh ĐTĐ đang điều trị, khuyến cáo kiểm tra khám kiểm tra sức khỏe tim mạch hiện nay ở nước ta là mỗi 6 tháng.

8  Người bệnh đái tháo đường có cách nào làm chậm tổn thương mạch máu?

Để làm chậm tổn thương mạch máu, tăng sức bền thành mạch, phòng ngừa biến chứng tim mạch, người bệnh ĐTĐ cần chú ý:

Bệnh nhân cần đạt được các mục tiêu sau khi điều trị:

– Chỉ số HbA1c < 7%

– Huyết áp dưới 130/80mmHg

– LDL cholesterol < 100 mg/dL (2,6 mmo/L) ở người bệnh chưa bị biến cố tim mạch và <70 mg/dL (1,8mmol/L) ở bệnh nhân đã từng có biến cố tim mạch

– Cố gắng đạt mức HDL choleterol > 40mg/dL(1mmol/L) ở nam hoặc > 50 mg/dL(1,25mmol/L) ở nữ

– Lượng Triglycerid không quá 150 mg/dL (1,68mmol/L)

– Giảm cân nếu người bệnh thừa cân, béo phì

– Cai thuốc lá

Để đạt mục tiêu đó, người bệnh cần:

– Khám bác sĩ định kỳ, tuân thủ đúng quy trình điều trị, chỉ dẫn của bác sĩ

– Kiểm soát lượng đường máu và huyết áp bằng chế độ ăn uống, luyện tập khoa học

– Duy trì nếp sống điều độ, ăn đúng giờ quy định, ngủ đủ giấc, tránh tình trạng ngồi lâu một chỗ

9 Chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường có biến chứng tim mạch cần lưu ý gì?

Chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường

– Các chuyên gia khuyến nghị người bệnh tiểu đường nên ăn thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp và giàu chất xơ như rau xanh, các loại họ đậu,… Ăn các loại thịt nạc như thịt bò vì giàu CLA có tác dụng cải thiện chức năng chuyển hoá lượng đường trong máu.

Đồng thời, bổ sung cá biển giàu acid béo có lợi giúp giảm cholesterol có hại, thay vào đó là những cholesterol có lợi. Khi chăm sóc bệnh nhân tiểu đường, người thân cũng cần chú ý cách chế biến, càng đơn giản càng tốt như luộc, hấp,… hạn chế món ăn nhiều dầu mỡ, chiên xào và các đồ chế biến sẵn, đóng hộp.

– Hạn chế muối nhiều hơn nữa: Người lớn khỏe mạnh không dùng quá 5 gam muối (Nacl) /ngày thì bệnh nhân tim mạch hoặc có các yếu tố nguy cơ của bệnh không dùng quá 4 gam muối/ngày. Với bện nhân suy tim nặng, giới hạn < 2g muối mỗi ngày.

Do đó bệnh nhân suy tim cần tránh thực phẩm đã chế biến, thực phẩm đóng hộp hoặc thức ăn nhanh. Tập thói quen đọc hàm lượng Natri (Sodium) ghi trong thành phần trong thực phẩm đóng sẵn.

– Đối với bệnh nhân suy tim có sử dụng thuốc chống đông: Nên hạn chế ăn các loại rau quả có lá màu xanh sậm màu như: cải bó xôi, bông cải xanh, đậu Hà Lan, đậu xanh, củ cải, mùi tây và rau diếp…

– Không ăn quá no: ăn quá no tạo gánh nặng cho tim phải làm việc nhiều hơn để cấp máu đến cho hệ tiêu hóa xử lý thức ăn. Thế nên, hãy ăn chậm, nhai kỹ, chỉ ăn vừa đủ và ngưng khi não phát tín hiệu “dạ dày đã được lấp đầy 70 – 80%”.

10.  Người bệnh đái tháo đường có biến chứng tim mạch nên vận động thế nào hợp lý?

Vận động, cụ thể là tập thể dục thể thao, một cách đều đặn, hợp lý luôn là liều thuốc bổ với sức khỏe vì giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch, chứng béo phì, chứng tăng mỡ máu…

Đối với bệnh nhân bị tiểu đường, vận động không chỉ giúp kiểm soát đường máu mà còn tăng khả năng hoạt động của insulin trong cơ thể từ đó giúp giảm lượng đường trong máu đồng thời giúp cơ thể cải thiện khả năng sử dụng glucose; Có thể làm giảm insulin; Tăng cholesterol tốt và giảm cholesterol xấu từ đó giảm thiểu nguy cơ với bệnh tim mạch; Cải thiện huyết áp; Kiểm soát cân nặng; Giúp khớp được duy trì và tăng cường độ linh hoạt; Chế ngự căng thẳng; Hỗ trợ điều trị tiểu đường tốt hơn đồng thời ngăn chặn được các biến chứng do tiểu đường gây ra; Cải thiện khả năng sử dụng đường trong cơ thể nên sẽ giúp cải thiện kiểm soát đường huyết đồng thời giảm nhu cầu sử dụng thuốc của người bệnh.

Tùy vào từng bệnh lý và từng giai đoạn bệnh khác nhau mà người mắc ĐTĐ có biến chứng tim mạch sẽ có khuyến cáo về mức độ hoạt động thể lực khác nhau.

Những bệnh nhân có chức năng co bóp của tim còn tốt, chưa có triệu chứng suy tim thì vẫn có thể sinh hoạt bình thường, tham gia các môn thể thao nhẹ không có tính đối kháng, chỉ cần tránh nâng vật nặng, tránh chơi các môn thể thao có cường độ cao (như đá bóng, bóng rổ, bóng chuyền, võ thuật…).

Còn những bệnh nhân đã có triệu chứng của suy tim thì cần giảm mức độ gắng sức nhiều hơn, tùy vào mức độ suy tim mà khả năng gắng sức sẽ khác nhau.

Nhìn chung, một số hình thức thể dục phù hợp với đa số người bệnh ĐTĐ có biến chứng tim mạch là:

Đi bộ: muốn đạt lợi ích thật sự cho tim mạch thì nên đi hơi nhanh, hơi rảo bước để cho mạch nhanh lên. Sau đó thong thả đi chậm. Nếu thấy ra chút mồ hôi và hơi thở gấp một chút là tốt. Có thể đi bộ nhiều lần trong ngày. Mỗi ngày rảo bước độ 30 – 60 phút là đủ. Chú ý giày mang phải phù hợp và kiểm tra bàn chân trước và sau khi đi bộ.

Chạy: là cách tập luyện rất tốt cho người bệnh tim. Mỗi buổi tập nên bắt đầu chạy chậm, sau đó nhanh dần nhưng vừa sức và đều đặn. Khi thấy mệt thì chạy chậm dần lại trước khi ngừng hẳn.

Những buổi tập đầu tiên nên chạy những quãng đường ngắn, vài trăm mét hoặc người yếu thì vài chục mét, nhưng sau đó sẽ tăng dần lên. Có thể mỗi tuần chỉ chạy 3-4 lần, với điều kiện tổng số chiều dài quãng đường được nâng dần lên. Tránh chạy ở những nơi không khí ô nhiễm. Theo nghiên cứu, những người hít thở không khí ô nhiễm trong một thời gian dài sẽ có nguy cơ chết vì bệnh tim cao hơn người sống trong môi trường trong lành đến 76%.

Bơi: rất thích hợp với điều kiện là bơi thư thả nhẹ nhàng, không bơi nhanh và lặn vì việc nín thở rất nguy hiểm cho tim mạch.

Bóng bàn, cầu lông: môn thể thao nhẹ rất an toàn. Chơi tùy sức, nhẹ nhàng, đừng cố gắng nhưng không được chơi kéo dài trên một giờ.

Khí công, yoga: có tác dụng rất tốt đối với sức khỏe toàn thân, đặc biệt là tim mạch vì nó ảnh hưởng tốt đến tâm lý, tạo sự lạc quan và tự tin cho người tập.

Mỗi buổi tập kéo dài ít nhất khoảng 30 phút. Cần phải cố gắng luyện tập thể thao đạt được ít nhất 150 phút/tuần, nếu không nhiều hơn được.

Đối với những người thể trạng yếu có thể bắt đầu phương thức luyện tập vài phút thì tạm nghỉ bằng thời gian tập hoặc nghỉ gấp đôi thời gian tập, tiếp tục lặp đi lặp lại như thế trong tổng thời gian khoảng 30-40 phút cho một lần tập luyện. Tiến hành tập luyện như thế đến khi thể lực được tăng cường mới lại kéo dài thời gian tập.

BS.CK1 Cao Thị Lan HươngBenhdotquy.net

Chăm sóc đột quỵ

Dấu hiệu đột quỵ

Tầm soát đột quỵ