Phụ nữ đối mặt với nguy cơ đột quỵ tăng sau khi can thiệp động mạch cảnh

Một nghiên cứu gần đây đã chỉ ra sự gia tăng nguy cơ đột quỵ ở cả bệnh nhân nữ không triệu chứng và có triệu chứng, cũng như khả năng thuyên giảm ở bệnh nhân nữ không triệu chứng sau phẫu thuật cắt nội mạc động mạch cảnh (CEA) hoặc đặt stent động mạch cảnh (CAS). Những phát hiện này đã được công bố trực tuyến trước khi in trên Tạp chí Phẫu thuật Mạch máu (JVS).

12-01-2022 16:35

Phụ nữ đối mặt với nguy cơ đột quỵ tăng sau khi can thiệp động mạch cảnh – Ảnh: NeuroNews

Tác giả Steven Goicoechea (Trung tâm Y tế Đại học Loyola, Chicago, Hoa Kỳ) và các đồng nghiệp viết rằng, trước đây, phẫu thuật cắt nội mạc động mạch cảnh đã được chứng minh tỷ lệ các tác dụng phụ sau phẫu thuật cao hơn đối với bệnh nhân nữ. Mặc dù vậy, họ lưu ý rằng nghiên cứu gần đây đưa ra bằng chứng cho thấy kết quả tương tự sau phẫu thuật cắt nội mạc động mạch cảnh giữa bệnh nhân nữ và nam. Tuy nhiên, ngược lại, họ nhấn mạnh rằng rất ít nghiên cứu đã kiểm tra sự khác biệt về giới tính trong đặt stent động mạch cảnh .

Để giải quyết lỗ hổng này trong tài liệu, Goicoechea và cộng sự đã thu thập dữ liệu hiện đại từ cơ sở dữ liệu của Chương trình Cải thiện Chất lượng Phẫu thuật Quốc gia (NSQIP) của Trường Cao đẳng Phẫu thuật Hoa Kỳ (ACS) và thực hiện đánh giá cắt ngang hồi cứu.

Nhóm nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ những bệnh nhân trưởng thành (n = 106,658) đã trải qua phẫu thuật cắt nội mạc động mạch cảnh (n = 104,412) hoặc đặt stent động mạch cảnh (n = 2,156) trong giai đoạn 2005–2017.

Kết quả chính của nghiên cứu được quan tâm là các bất lợi sau phẫu thuật trong 30 ngày ở bệnh nhân không triệu chứng so với có triệu chứng và bệnh nhân nữ so với nam, những người đã trải qua phẫu thuật cắt nội mạc động mạch cảnh hoặc đặt stent động mạch cảnh .

Trong số nhóm không có triệu chứng – trong đó gần 60% bệnh nhân là nam – giới tính nữ có liên quan đến tỷ lệ tai biến mạch máu não cao hơn đáng kể (32%, p = 0,034), biến chứng chảy máu (203%, p = 0,001), và tiểu nhiễm trùng đường (70%, p = 0,011) so với giới tính nam, các tác giả viết.

Goicoechea và cộng sự nói thêm rằng giới tính nữ cũng có liên quan đến tỷ lệ viêm phổi thấp hơn (39%, p = 0,039) và bệnh nhân nữ dưới 75 tuổi minh họa tỷ lệ tai biến mạch máu não tăng (21%, p = 0,001) và khả năng tái phát (15 %, p <0,001) so với bệnh nhân nam, trong khi điều này không đúng ở bệnh nhân nữ từ 75 tuổi trở lên. Cuối cùng, ở cả bệnh nhân không triệu chứng và có triệu chứng được điều trị phẫu thuật cắt nội mạc động mạch cảnh, bệnh nhân nữ có tỷ lệ tai biến mạch máu não cao hơn đáng kể (13% p = 0,006 và 31%, p = 0,044). Tuy nhiên, những phát hiện này không được tìm thấy ở bệnh nhân đang điều trị đặt stent động mạch cảnh .

Trong phần thảo luận về phát hiện của mình, Goicoechea và cộng sự viết rằng, nghiên cứu hiện tại nhấn mạnh sự chênh lệch giới tính trong phẫu thuật mạch máu, bao gồm sự khác biệt về kết quả sau phẫu thuật và các biến chứng đã được hình thành trước đó. Họ nêu chi tiết rằng phụ nữ và dân tộc thiểu số trước đây ít được đại diện trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCTs) phẫu thuật mạch máu, đặc biệt là trong các thử nghiệm phi chính phủ và đơn trung tâm, nhận xét rằng sự thiếu đại diện này dẫn đến báo cáo không đầy đủ về những khác biệt đáng kể tiềm ẩn trong kết quả giữa bệnh nhân nam và bệnh nhân nữ.

Cũng trong cuộc thảo luận của mình, các tác giả lưu ý rằng nghiên cứu của họ bị giới hạn bởi một số yếu tố, bao gồm việc sử dụng dữ liệu hồi cứu từ một bộ dữ liệu quản trị với thông tin có khả năng bị thiếu và khó xác định nguyên nhân của sự khác biệt trong kết quả của nữ và nam do “thiếu chi tiết ” trong một cơ sở dữ liệu lớn như NSQIP.

Trong phần kết luận, Goicoechea và các đồng nghiệp cho biết nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ sự chênh lệch giới tính trong điều trị phẫu thuật bệnh mạch máu não và nhấn mạnh rằng các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng phải đảm bảo sự đại diện đầy đủ của bệnh nhân nữ để hiểu rõ hơn những khác biệt này.

Anh Thi, theo NeuroNews