Thủ thuật cắt bỏ khối u an toàn cho bệnh nhân đột quỵ mang thai

Loại bỏ cục máu đông trong não về mặt vật lý là một phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho phụ nữ mang thai bị đột quỵ, một nghiên cứu mới đây cho thấy.

11-01-2022 09:05

Nghiên cứu mới cho thấy thủ thuật cắt bỏ khối u an toàn cho bệnh nhân đột quỵ mang thai – Ảnh: stroke

Đột quỵ khi mang thai rất hiếm, nhưng nguy cơ sẽ tăng lên khi mang thai và sau khi sinh 12 tuần.

Loại đột quỵ phổ biến nhất là đột quỵ do thiếu máu cục bộ, nơi cục máu đông làm tắc nghẽn dòng máu trong não. Phẫu thuật cắt khối cơ học – nơi bác sĩ phẫu thuật luồn một ống thông qua động mạch để loại bỏ cục máu đông lớn – đã trở thành phương pháp điều trị tiêu chuẩn vào năm 2015 sau một loạt các nghiên cứu mang tính bước ngoặt.

Tiến sĩ Fawaz Al-Mufti, tác giả chính của nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Stroke của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ cho biết: “Thật không may, bệnh nhân mang thai và sau sinh bị loại khỏi nhiều thử nghiệm lâm sàng”.

Sự hiếm hoi của những ca đột quỵ như vậy cũng đặt ra một thách thức cho các nhà nghiên cứu, với ước tính khoảng 1,5 – 67,1 ca đột quỵ trên 100.000 ca sinh nở hoặc chỉ 0,0015% phụ nữ mang thai.

Vì vậy, Al-Mufti, phó chủ tịch khoa thần kinh nghiên cứu tại trường Cao đẳng Y tế New York ở Valhalla, và nhóm của ông đã chuyển sang dữ liệu lớn. Họ đã sử dụng cơ sở dữ liệu được gọi là Mẫu bệnh nhân nội trú quốc gia để xác định 52.825 phụ nữ nhập viện vì đột quỵ từ năm 2012 – 2018. Trong số đó, 4.590 phụ nữ đang mang thai hoặc mới sinh con. Và trong số những phụ nữ đó, 180 người đã được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật cắt huyết khối cơ học.

Đầu tiên, nghiên cứu so sánh 180 phụ nữ mang thai hoặc sau sinh với 48.055 phụ nữ không mang thai cũng được phẫu thuật cắt bỏ cơ học. Sau thủ thuật, nhóm mang thai ít bị chảy máu nguy hiểm bên trong hộp sọ, gọi là xuất huyết nội sọ.

Phụ nữ mang thai/sau sinh cũng có tổng thể tốt hơn sau khi phẫu thuật cắt bỏ huyết khối. Một nửa bị khuyết tật từ trung bình đến nặng khi xuất viện, so với gần 3/4 nhóm không mang thai. Không có phụ nữ mang thai/sau sinh nào tử vong tại bệnh viện.

Phụ nữ mang thai có xu hướng trẻ hơn, với độ tuổi trung bình là 33, so với 71 của nhóm lớn hơn không mang thai. Nhưng những phụ nữ mang thai có nhiều khả năng bị đột quỵ nặng hơn.

Nghiên cứu cũng so sánh những phụ nữ mang thai được phẫu thuật cắt khối u cơ học với 4.410 phụ nữ mang thai hoặc sau sinh được điều trị đột quỵ về mặt y tế – chẳng hạn như bằng thuốc làm tan cục máu đông, Al-Mufti cho biết. Phân tích này liên quan đến việc so sánh có chọn lọc những phụ nữ có hoàn cảnh giống nhau nhất có thể, mặc dù các nhà nghiên cứu cho biết họ thiếu dữ liệu về chủng tộc.

Trong so sánh này, cả hai nhóm đều tương tự nhau về tỷ lệ xuất huyết nội sọ và các biến chứng sau sinh cũng như khả năng hoạt động của họ khi rời bệnh viện. Biến chứng thai nghén ít gặp hơn sau phẫu thuật cắt khối cơ học so với xử trí y tế (44% so với 64%), và không ai trong nhóm phẫu thuật cắt khối u bị sẩy thai.

Nhóm phẫu thuật cắt huyết khối cơ học có tỷ lệ cao hơn các cục máu đông nguy hiểm trong các tĩnh mạch lớn, thường ở chân, được gọi là huyết khối tĩnh mạch sâu, hoặc trong phổi, được gọi là thuyên tắc phổi.

Al-Mufti cho biết, điều này có thể là do những bệnh nhân này phải nằm viện lâu hơn và việc bất động có thể dẫn đến tình trạng đông máu như vậy hoặc có thể những phụ nữ trong nhóm này dễ bị đông máu và đột quỵ nghiêm trọng hơn.

Tiến sĩ Sadiya S. Khan, trợ lý giáo sư y khoa và y tế dự phòng tại Trường Y Feinberg thuộc Đại học Northwestern ở Chicago, cho biết nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu về phụ nữ mang thai và sau sinh.

Khan, người không tham gia vào nghiên cứu, cho biết thai kỳ làm căng cơ thể phụ nữ, khiến họ dễ bị đông máu và viêm nhiễm, có thể dẫn đến đột quỵ. Tuy nhiên, các bác sĩ không phải lúc nào cũng có dữ liệu chắc chắn để hướng dẫn điều trị vì có thể gặp rủi ro khi đưa phụ nữ mang thai vào nghiên cứu do lo ngại về sự an toàn cho cả người phụ nữ và thai nhi. “Nhưng cũng không công bằng khi loại họ khỏi tất cả các nghiên cứu một cách có hệ thống khi dữ liệu đó là cần thiết cho họ.” – Khan cho biết.

Khan cho rằng nghiên cứu này có giới hạn bởi tỷ lệ đột quỵ khác nhau giữa các nhóm chủng tộc và dân tộc – nguy cơ đột quỵ cao hơn, ví dụ, ở người da đen hơn ở người da trắng – vì vậy các nghiên cứu cần bao gồm chủng tộc và các yếu tố xã hội khác về sức khỏe khi có sẵn. Al-Mufti cho biết, nghiên cứu đã có dữ liệu về chủng tộc nhưng không thể tự tin kiểm soát nó trong phân tích của họ vì một số mục nhập chủng tộc bị thiếu.

Khan cho biết sẽ rất hữu ích khi xem dữ liệu về các tình trạng tăng huyết áp như tiền sản giật có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ ở phụ nữ mang thai. Bỏ qua những hạn chế, nghiên cứu đưa ra những chỉ dẫn hữu ích rằng đối với phụ nữ mang thai và sau sinh, sẽ an toàn nếu tiến hành phẫu thuật cắt bỏ cơ học, có thể mang lại kết quả lâu dài tốt nhất.

Các nhà nghiên cứu thừa nhận rằng các loại nghiên cứu khác nhau sẽ cần thiết để xác nhận các phát hiện của họ nhưng sự hiếm hoi của vấn đề khiến những loại nghiên cứu đó khó có thể xảy ra.

Al-Mufti cho biết, nghiên cứu cho thấy bệnh nhân đột quỵ mang thai nên được theo dõi cẩn thận về cục máu đông khi họ hồi phục. Nhìn chung, nghiên cứu cho các bác sĩ biết rằng họ không nên cảnh giác về việc sử dụng phương pháp phẫu thuật cắt huyết khối cơ học ở phụ nữ mang thai. Hoàn toàn ngược lại, liệu pháp nội mạch có thể rất hiệu quả và rất hữu ích ở đối tượng bệnh nhân này.

Anh Thi, theo Stroke