Đột quỵ do tăng huyết áp gây tắc nghẽn, vỡ mạch máu não

1. Thế nào là tăng huyết áp, thế nào là đột quỵ? Huyết áp cao có nghĩa là lực đẩy máu vào hai bên động mạch của bạn luôn ở mức cao. Điều này có thể dẫn đến đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim hoặc suy thận. Huyết áp được tính bằng đơn …

24-03-2021 11:39

1. Thế nào là tăng huyết áp, thế nào là đột quỵ?

Huyết áp cao có nghĩa là lực đẩy máu vào hai bên động mạch của bạn luôn ở mức cao. Điều này có thể dẫn đến đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim hoặc suy thận.

Huyết áp được tính bằng đơn vị mmHg mà được xác định bằng cách đo huyết áp. Có hai chỉ số đại diện cho huyết áp, đó là tâm thu và tâm trương. Huyết áp tâm thu cao hơn (được liệt kê đầu tiên), cho thấy áp lực trong khi tim đang đập, huyết áp tâm trương nhỏ hơn, cho thấy áp lực khi tim đang nghỉ giữa các nhịp đập.

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), chẩn đoán tăng huyết áp khi trị số trung bình qua ít nhất hai lần đo của huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc trị số trung bình của huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg, trong ít nhất 2 lần thăm khám liên tiếp.

Đột quỵ não là tình trạng tổn thương chức năng thần kinh xảy ra đột ngột, khi mạch máu não (thường là tắc hoặc vỡ động mạch não), gây nên yếu liệt nửa người, rối loạn tri giác.

2. Tăng huyết áp liên quan đến cả 2 dạng của đột quỵ não

Tăng huyết áp được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng” bởi nó gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe. Trong đó, tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất và là nguyên nhân hàng đầu của đột quỵ, bao gồm cả đột quỵ nhồi máu não và đột quỵ xuất huyết não.

Theo thống kê, mỗi năm trên thế giới tăng huyết áp gây tử vong 4,9 triệu người do bệnh tim thiếu máu cục bộ; 2 triệu người tử vong do đột quỵ xuất huyết não và 1,5 triệu người tử vong do đột quỵ thiếu máu não.

Ngoài ra, tăng huyết áp cũng có thể gây ra cục máu đông dẫn đến cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA), mặc dù có thể hồi phục ngay sau đó, nhưng điều này cảnh báo một cơn đột quỵ toàn phát có thể xảy ra trong tương lai gần.

3. Vì sao tăng huyết áp có thể gây tắc nghẽn, vỡ mạch máu não?

Tăng huyết áp là nguyên nhân chính gây ra đột quỵ, tuy nhiên các triệu chứng của bệnh tăng huyết áp thường không rõ ràng khiến người bệnh chủ quan hoặc nhầm lẫn với triệu chứng của các căn bệnh khác (Ảnh minh họa)

Như đã nói ở trên, tăng huyết áp đều là nguy cơ dẫn đến cả 2 dạng của đột quỵ não (nhồi máu não và xuất huyết não).

Tăng huyết áp làm tăng gánh nặng cho tim và làm hỏng các động mạch và các cơ quan theo thời gian, lâu dần làm tăng xơ vữa động mạch dẫn đến sự nứt vỡ của mảng xơ vữa và hình thành cục máu đông, gây ra hẹp tắc lòng mạch. Điều này dẫn đến giảm lượng máu đến các tế bào não, làm cho tế bào não “chết dần chết mòn”. Đây là dạng đột quỵ nhồi máu não, chiếm khoảng 80% các trường hợp bị đột quỵ.

Tăng huyết áp áp làm tất cả các mạch máu yếu đi và tăng nguy cơ bị tổn thương, khiến động mạch trong tình trạng căng thẳng liên tục, huyết áp cao gây tổn thương lớp niêm mạc bên trong của các mạch máu. Căn bệnh này cũng khiến cho áp lực các động mạch ở não tăng lên cho đến khi chúng không còn duy trì áp suất, dẫn đến mạch máu bị vỡ, đây gọi là đột quỵ dạng xuất huyết, chiếm khoảng 20% các trường hợp bị đột quỵ.

Khi đột quỵ xảy ra, điều trị gặp nhiều khó khăn do những tổn thương thần kinh ở các mức độ khác nhau, để lại hậu quả nặng nề như khuyết tật kéo dài, sa sút trí tuệ, suy giảm nhận thức, giảm tuổi thọ, mất khả năng lao động thậm chí tử vong… Chưa kể chi phí nằm viện, điều trị tốn kém.

Đặc biệt, đột quỵ do tăng huyết áp tỷ lệ tử vong rất cao, dao động 70-80%. Nguyên nhân là do tình trạng tăng huyết áp lâu dài sẽ ảnh hưởng mạch máu não, mạch máu tim và tất cả cơ quan khác. Khi mạch máu não bị tai biến sẽ ảnh hưởng kèm theo các cơ quan khác, dẫn đến tỷ lệ tử vong tăng cao.

4. Huyết áp tăng bao nhiêu có thể dẫn đến đột quỵ?

Tùy từng người, từng cơ địa khác nhau sẽ có phản ứng khác nhau. Có người tăng huyết áp tâm thu đến 180mmHg nhưng vẫn chưa xảy ra đột quỵ, ngược lại có người mới mấp mé 140, 150mmHg đã có thể dẫn đến tình trạng nguy hiểm này.

Ở người trưởng thành, lý tưởng nhất là huyết áp tâm thu khoảng 110-120mmHg, huyết áp tâm trương 80mmHg. Như vậy, khi huyết áp vượt ngưỡng này đều là yếu tố nguy cơ của đột quỵ, nhất là chỉ cần có một xúc cảm hoặc căng thẳng nào đó tác động.

Mức báo động đỏ có khả năng dẫn đến đột quỵ rất cao là huyết áp tâm thu từ 180mmHg trở lên hoặc huyết áp tâm trương trên 100mmHg. Khi đó những mạch máu nhỏ li ti trên não sẽ vỡ ra và bệnh nhân có thể dẫn đến đột quỵ xuất huyết não rất nguy hiểm.

Nhiều bệnh nhân lo lắng vì không phải lúc nào cũng giữ được mức huyết áp đạt “điểm đẹp” như người bình thường. Các chuyên gia cho rằng, trong một số trường hợp có thể “du di” ở trong mức 130-140mmHg, đặc biệt là ở những người lớn tuổi nhiều bệnh nền mức huyết áp duy trì có thể ở mức dưới hoặc cán biên 140mmHg. Nhưng lưu ý điều này cần phải được đánh giá bởi bác sĩ chuyên khoa.

5. Người bị tăng huyết áp dễ bị đột quỵ vào thời điểm nào trong ngày?

Đột quỵ có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Song theo kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực Thần kinh – Đột quỵ, nhiều trường hợp người bệnh tăng huyết áp thường bị đột quỵ vào sáng sớm. Ngay cả những bệnh nhân kiểm soát tốt huyết áp vẫn có đến 50% có huyết áp buổi sáng cao hơn bình thường.

Một số nguyên nhân làm tăng huyết áp vào buổi sáng như do nhịp sinh học bình thường của cơ thể vào buổi sáng giải phóng nhiều hormone; do sử dụng thuốc chứa steroid hoặc uống quá nhiều rượu bia cũng có thể gây tăng huyết áp vào sáng sớm.

Mặt khác, do thời tiết buổi sáng khá lạnh, hoặc đặc biệt những vùng có nhiệt độ thay đổi giữa sáng, chiều, biên độ dao động cao khiến các mạch máu sẽ co lại, làm huyết áp ở những người có sẵn bệnh huyết áp tăng hơn so với những trường hợp khác. Do đó, nếu không uống thuốc, không điều chỉnh ổn định huyết áp kịp thời sẽ dẫn đến huyết áp buổi sáng cao hơn các thời điểm khác trong ngày và làm tình trạng mạch máu ở những chỗ yếu sẽ dễ vỡ và gây tai biến.

6. Dấu hiệu đột quỵ do tăng huyết áp

Để kịp thời giúp người thân được cứu sống và có cơ hội phục hồi khi bị đột quỵ, thân nhân cần nhanh chóng đưa đến bệnh viện càng sớm càng tốt (thời gian vàng chỉ trong khoảng từ 4,5 – 6 giờ kể từ khi khởi phát các triệu chứng đột quỵ).

Người tăng huyết áp khi bị đột quỵ sẽ có các dấu hiệu đau đầu từ từ và đột ngột, chóng mặt (mạch máu hẹp dẫn đến thiếu máu lên não), hoa mắt, mất thăng bằng, cảm giác tê hay yếu liệt ở mặt, tay hoặc chân, bỗng dưng không nói được hoặc nói nhảm, mất thị lực (đặc biệt chỉ xuất hiện triệu chứng ở một bên mắt), không thể vận động theo ý muốn.

Lúc này hãy gọi ngay xe cấp cứu, đến cơ sở y tế gần nhất có khả năng cấp cứu, can thiệp đột quỵ, đừng chần chừ đợi hết triệu chứng, không chích lễ, xoa dầu, nặn gió, chích lễ, không ăn, uống, bao gồm cả uống thuốc.

7. Sơ cứu thế nào khi có người bị đột quỵ?

Trong lúc chờ xe cấp cứu, nếu người bệnh còn tỉnh táo hãy hỏi các triệu chứng, bệnh lý, các loại thuốc đang sử dụng. Nới lỏng quần áo cho người bệnh, đừng tập trung đông người, hãy để không gian thoáng.

Nếu người bệnh bất tỉnh, tiểu tiện không tự chủ, nuốt sặc thì cho người bệnh nằm nghiêng đầu về một bên. Cách này sẽ giúp người bệnh tránh tình trạng trào ngược đờm dãi vào khí quản gây tắc nghẽn đường thở dẫn đến ngưng tim ngưng thở.

Không tự ý di chuyển người bệnh, nếu cần thiết phải đặt người bệnh lên một tấm ván cứng (lý tưởng nhất là dùng băng ca) với sự hỗ trợ của ít nhất 3 người (một người nâng phần đầu và phần vai, giữ cho phần đầu không bị chấn động; một người khác nâng phần lưng và phần mông của bệnh nhân; một người nữa nâng phần đùi và chân). Sau đó vận chuyển bệnh nhân đến nơi an toàn.

8. Người tăng huyết áp làm sao phòng ngừa đột quỵ?

Biện pháp hữu hiệu nhất để người bệnh tăng huyết áp phòng ngừa nguy cơ đột quỵ là chủ động kiểm soát huyết áp ở mức an toàn. Theo thống kê, cứ giảm mỗi 2mmHg huyết áp tâm thu sẽ giúp giảm thêm 7% tử vong do bệnh mạch vành và quan trọng hơn, nó giúp giảm thêm 10% tử vong do đột quỵ. Mục tiêu của điều trị tăng huyết áp là đưa về huyết áp tối ưu 120/80 mmHg, với con số huyết áp này thì hầu hết phòng ngừa được biến chứng đột quỵ ở hầu như tất cả các trường hợp.

Để đạt huyết áp mục tiêu cần kết hợp nhiều biện pháp. Trong khi cần tuân tuân thủ chặt chẽ theo y lệnh của bác sĩ chuyên khoa, không tự ý ngưng thuốc, mua thuốc, dùng chung đơn thuốc hoặc 1 đơn thuốc dùng thời gian dài.

Bên cạnh đó, tự đo huyết áp là đặc biệt hữu ích đối với bệnh nhân có sự thay đổi thất thường về huyết áp. Thời điểm đo là các buổi sáng từ lúc dậy đến khi ăn sáng trước lúc uống thuốc và buổi tối trước khi đi ngủ, trước khi dùng thuốc.

Quy tắc đo cần nhớ là sau khi ngồi nghỉ 1 phút, đặt máy đo lên cổ tay, gập cánh tay để di chuyển cổ tay ngang tầm với tim. Áp dụng quy tắc bộ ba, đo 3 lần mỗi sáng và 3 lần mỗi tối, mỗi lần cách nhau ít nhất 1 phút trong 3 ngày liên tiếp, lưu ý ghi rõ kết quả đo kèm theo ngày, thời gian và thuốc đang dùng. Đưa các số liệu này cho bác sĩ xem khi đi khám.

Song song với việc tuân thủ điều trị để ngăn ngừa đột quỵ do tăng huyết áp phải lưu ý đến tầm quan trọng của thay đổi lối sống như: tập thể dục, duy trì cân nặng hợp lý, giảm muối (bao gồm cả các thực phẩm nhiều muối như cà muối, mắm tôm, mắm tép…) và mỡ bão hòa, giảm lượng calorie trong chế độ ăn, tập thể dục đều đặn. Đặc biệt nói không với bia rượu, thuốc lá, bổ sung đủ can-xi, kali, ma-giê, chất xơ. Thay đổi lối sống đã được chứng minh có hiệu quả giảm mức huyết áp từ 10-20 mmHg. Những thay đổi này đôi lúc tương đương với một thuốc điều trị hạ áp.