Tận dụng “giờ vàng” cấp cứu đột quỵ: Sự sống của người thân nằm trong hiểu biết của bạn

“Giờ vàng” trong cấp cứu, điều trị đột quỵ là cụm từ quen thuộc khi nhắc đến căn bệnh tử thần này. Nhưng không phải ai cũng hiểu rõ các mốc cụ thể là 3 giờ, 4,5 giờ, 6 giờ hay 24 giờ. Bài viết dưới đây sẽ giải đáp đầy đủ những thông tin này.

10-03-2021 08:26

1. Vì sao “giờ vàng” quan trọng trong cấp cứu đột quỵ?

Đột quỵ và ung thư là 2 tình trạng bệnh lý gây ám ảnh nhất hiện nay. Nếu ung thư ít nhiều vẫn cho bạn cơ hội lựa chọn phương án từ các cơ sở y tế trong và ngoài nước, không “khắt khe” mốc thời gian điều trị thì ngược lại đột quỵ là một cấp cứu y tế khẩn cấp, sự sống của não được tính bằng giây, phút.

Nhưng đáng tiếc, ở Việt Nam tỷ lệ bệnh nhân đến bệnh viện trễ sau giờ vàng vẫn còn rất cao. Theo thống kê năm 2015, có đến 97% bệnh nhân đột quỵ đến sau khoảng thời gian vàng. Kể từ 2015 đến nay chúng ta đã có rất nhiều chương trình truyền thông, giáo dục sức khỏe, hội nghị – hội thảo kết nối các bác sĩ, bệnh viện, đồng thời tuyên truyền trong cộng đồng thì tỷ lệ này có cải thiện nhưng vẫn còn ở mức báo động.

Thực tế, trong những năm qua, bệnh nhân đột quỵ não đến bệnh viện để cấp cứu trong thời gian vàng (dưới 4,5 giờ) chỉ đạt 19,4% và chỉ 5,3% bệnh nhân đến trong vòng 6 giờ đầu tiên. Trong khi đó, có đến 75,3% bệnh nhân đến bệnh viện cấp cứu sau 6 giờ. Như vậy, chỉ khoảng 25% tổng số bệnh nhân được điều trị kịp thời và đạt được kết quả khả quan. Tỷ lệ tử vong do đột quỵ não tại Việt Nam vẫn còn cao, 18% đối với nam và 23% đối với nữ.

Những con số này cho thấy, càng trì hoàn xử lý đột quỵ não thì càng có nhiều thiệt hại cho người bệnh. Tế bào não sẽ chết chỉ trong vài phút nếu không được cấp máu hoặc oxy. Đối với đột quỵ thiếu máu não, khi mạch máu lớn trong não bị tắc, cứ mỗi giây trôi qua có 32 nghìn tế bào não chết và cứ mỗi phút trôi qua sẽ có 1,9 triệu tế bào não bị chết. Cứ mỗi giờ trôi qua, số tế bào não chết tương ứng mất đi 3,6 năm tuổi thọ của người bình thường (đó là trong trường hợp người bệnh may mắn sống sót)…

Tóm lại, trong đột quỵ, nếu người bệnh được điều trị càng sớm, cơ hội phục hồi càng cao, ít để lại di chứng. Ngược lại, nếu đến càng muộn sau “cửa sổ thời gian” thì cơ hội phục hồi sẽ thấp, nguy cơ tử vong cao. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu chúng ta tiết kiệm được mỗi 15 phút thì sẽ giảm được 4% nguy cơ tử vong và tàn phế cho bệnh nhân đột quỵ.

>>> Giải đáp 11 câu hỏi thường gặp về đột quỵ não

2. “Thời gian vàng” trong cấp cứu, điều trị đột quỵ là 3 giờ, 4 giờ, 6 giờ hay 24 giờ?

Cụm từ “thời gian vàng” được các chuyên gia nhắc đến nhiều trên truyền thông, các phương tiện thông tin đại chúng nên nhiều người vẫn chưa hiểu rõ về các mốc thời gian này.

Trước tiên cần phải hiểu đúng đột quỵ não gồm có 2 thể là nhồi máu não (hay tắc mạch máu não chiếm khoảng 80%) và xuất huyết não (hay còn gọi là vỡ mạch máu não chiếm khoảng 20%) Thời gian vàng trong đột quỵ là thời gian tốt nhất để cấp cứu điều trị bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não được quy ước như sau:

a. Đối với đột quỵ nhồi máu não

Trong vòng 4,5 giờ đối với nhồi máu não dùng thuốc tan máu đông (trước đây khi phác đồ điều trị đột quỵ đầu tiên trên thế giới ra mắt, thời gian vàng là 3 giờ đầu sau khi bệnh nhân khởi phát cơn đột quỵ nhồi máu não. Tuy nhiên, sau một số nghiên cứu, phác đồ điều trị từ năm 2015 đến nay, thời gian này đầu tiên để tiêm thuốc tiêu sợi huyết được kéo dài lên 4,5 giờ).

Khi bệnh nhân đến trong “cửa sổ” này nếu được chẩn đoán là đột quỵ nhồi máu não thỏa các điều kiện sức khỏe cho phép sẽ được tiêm thuốc tan máu đông đường tĩnh mạch rTPA (Alteplase).

Nếu chẩn đoán được bệnh nhân bị nhồi máu não do tắc động mạch lớn nội sọ (cảnh trong, não giữa M1, thân nền…) có thể tiêm rTPA nhưng phải chuyển ngay bệnh nhân đến “Phòng DSA” can thiệp lấy huyết khối vì xác suất tái thông do thuốc thành công thấp trong tắc mạch lớn.

Trong vòng 6 giờ đối với nhồi máu não can thiệp lấy huyết khối: Khi bệnh nhân đến sau 4,5 giờ sẽ không cồn chỉ định tiêm thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch nữa, cho dù là tắc mạch nhỏ cũng không được sử dụng. Nếu bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não chẩn đoán được do tắc động mạch lớn đến trong khoảng thời gian này sẽ được can thiệp nội mạch lấy huyết khối. Can thiệp tái thông càng sớm càng nhanh chóng sẽ càng tốt cho bệnh nhân.

Thời gian can thiệp sau 6 giờ là “can thiệp cầu may” tìm thêm cơ may cho bệnh nhân đến trễ nếu bác sĩ có thể chứng minh được là còn cơ may cho bệnh nhân: “còn vùng tranh tối tranh sáng” nghĩa là vùng tế bào não thiếu máu nuôi chưa chết hẳn còn có thể hồi phục.

Hiện nay có nhiều thông tin cho rằng “giờ vàng” trong điều trị đột quỵ đã được nới rộng bằng phần mềm RAPID. Song thực tế phần mềm RAPID không phải để kéo dài thời gian vàng mà chỉ là công cụ để đánh giá cho những trường hợp bệnh nhân đột quỵ đến muộn sau giờ vàng, để xem việc can thiệp lấy huyết khối còn hiệu quả hay không.

Hay nói cách khác cho dễ hiểu, ở một bệnh nhân đến trễ sau giờ vàng, chúng ta không biết bệnh nhân có tổn thương não hoàn toàn hay chưa thì mới cần khởi động phần mềm RAPID. Như vậy, việc sử dụng RAPID mang lại lợi ích có thể điều trị cho nhiều bệnh nhân hơn hoặc cũng có thể giảm bớt số lượng bệnh nhân điều trị can thiệp không cần thiết.

b. Đối với xuất huyết não

Trong đột quỵ xuất huyết não, thời gian nào cũng là giờ vàng, nghĩa là điều trị càng sớm càng tốt, càng có hiệu quả cao. Tiên lượng bệnh cũng như kết quả điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí xuất huyết, nông hay sâu, vùng chức năng, lượng máu chảy, nguyên nhân (tăng huyết áp, phình mạch, dị dạng mạch…).

>>> Cơn thiếu máu não thoáng qua: Lời cảnh báo đột quỵ từ tương lai

3. Nếu đến được trong “thời gian vàng”, bác sĩ sẽ làm gì cho người đột quỵ?

a. Trường hợp bệnh nhân có thể hợp tác

Khi bệnh nhân đột quỵ nhập viện, nếu có thể hợp tác, thực hiện theo y lệnh của bác sĩ, thông thường sẽ được chỉ định chụp MRI để kiểm tra độ tưới máu não, phát hiện các tổn thương.

Qua kết quả chụp MRI, nếu là đột quỵ nhồi máu não, đến trước 4,5 giờ, bác sĩ sẽ kiểm tra các chống chỉ định dùng thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch để chỉ định dùng thuốc. Sau đó, bác sĩ sẽ chỉ định chụp lại CTA (CT có thuốc cản quang) để kiểm tra hiệu quả điều trị, nếu mạch máu không được tái thông và kết quả chụp CTA là tắc mạch máu lớn thì chuyển lên phòng DSA can thiệp nội mạch, nếu là tắc mạch máu nhỏ thì tiếp tục điều trị nội.

Nếu nhồi máu não nhưng bệnh nhân đến sau 4,5 giờ hoặc nhồi máu não do tắc mạch lớn (mà bệnh nhân đến trong vòng 6 giờ đầu kể từ khi khởi phát triệu chứng) thì sẽ được điều trị bằng can thiệp nội mạch.

Qua kết quả chụp MRI, nếu là đột quỵ xuất huyết và nghi ngờ do cao huyết áp thì sẽ điều trị nội khoa. Trường hợp đột quỵ do dị dạng mạch máu não hoặc do túi phình sẽ chuyển lên phòng DSA can thiệp nội mạch.

b. Trường hợp bệnh nhân không thể hợp tác

Trường hợp này bác sĩ sẽ chỉ định chụp CT không cản quang để đánh giá bệnh nhân đột quỵ do xuất huyết hay không xuất huyết. Một số trường hợp đột quỵ không do xuất huyết, nếu bệnh nhân đến trong thời gian vàng 4,5 giờ đồng hồ kể từ khi khởi phát triệu chứng và không có chống chỉ định thì sẽ được tiêm thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch.

Tương tự như trên, sau khi tiêm thuốc bác sĩ sẽ cho chụp lại CTA (CT có tiêm thuốc cản quang) để đánh giá tình trạng tái thông mạch máu. Nếu kết quả đánh giá là mạch máu đã thông thì tiếp tục điều trị nội, nếu kết quả chụp CTA có tắc mạch máu lớn thì chuyển lên phòng DSA điều trị can thiệp nội mạch.

4. Cần làm gì khi người thân có triệu chứng đột quỵ để kịp “giờ vàng”?

Điều quan trọng khi phát hiện người thân có dấu hiệu đột quỵ là cần hành động nhanh để kịp đến viện trong giờ vàng. Sau đây là những việc cần thực hiện ngay:

Lập tức gọi xe cứu thương: Gọi 115 là lựa chọn thông minh nhất khi gặp người có dấu hiệu bị đột quỵ. Xe cứu thương 115 sẽ đưa đến địa điểm có thể thực hiện kỹ thuật cấp cứu bệnh nhân đột quỵ chuẩn nhất và nhanh nhất. Thêm vào đó, nhân viên y tế của 115 được trang bị kiến thức y tế để xử lý các tình huống khẩn cấp khác nhau, họ có thể hỗ trợ cứu sống bệnh nhân trên đường đến bệnh viện và có khả năng làm giảm các tác động của đột quỵ não.

– Trong khi chờ xe cấp cứu, cần phải:

+ Giữ thông thoáng môi trường chung quanh bệnh nhân để giúp họ thở tốt.

+ Đặt người bệnh nằm trên một mặt phẳng, bề mặt đủ độ cứng để giữ thăng bằng, không đặt lên đệm có độ lún sâu và tránh xê dịch để không làm trầm trọng tình trạng xuất huyết não.

+ Nếu có bất cứ dấu hiệu suy giảm ý thức nào, hoặc bệnh nhân có dấu hiệu nôn mửa, cần đặt bệnh nhân sang tư thế nằm nghiêng an toàn nhằm bảo vệ đường thở của bệnh nhân, móc hết đàm nhớt ở miệng người bệnh ra nếu có.

+ Nếu bệnh nhân bất tỉnh hoặc lơ mơ nhưng còn thở bình thường: Nên đặt bệnh nhân ở tư thế nằm nghiêng an toàn hoặc nằm ngửa, nhưng cần theo dõi kỹ. Nếu bệnh nhân nôn mửa, cần chuyển ngay bệnh nhân sang tư thế nằm nghiêng, tránh sặc chất nôn vào đường hô hấp.

+ Nếu bệnh nhân còn tỉnh: Hỗ trợ bệnh nhân nằm ở một tư thế thoải mái nhất và theo dõi phản ứng của bệnh nhân. Song song đó, trong khi chờ xe cứu thương đến hãy hỏi người bệnh càng nhiều thông tin càng tốt. Hỏi về tất cả các loại thuốc mà người bệnh đang dùng, tình trạng sức khỏe, có dị ứng gì không. Đồng thời ghi lại tất cả các triệu chứng bao gồm: thời điểm đột quỵ, tiền sử bệnh tật của người bệnh như tăng huyết áp, bệnh tim, ngừng thở khi ngủ, tiểu đường… Những thông tin này rất hữu ích khi bác sĩ khai thác bệnh sử…

Những việc không tự ý làm:

– Không tự ý điều trị cho bệnh nhân dù chỉ là bấm huyệt, châm cứu, đánh gió vì những động tác này có thể làm nặng thêm tình trạng bệnh và làm mất thời gian vàng điều trị.

– Không cho bệnh nhân ăn uống và đề phòng nôn trào ngược, bệnh nhân hít chất nôn hoặc thức ăn vào đường thở sẽ rất nguy hiểm.

– Không tự ý dùng thuốc, kể cả thuốc hạ huyết áp, chỉ dùng thuốc hạ huyết áp khi huyết áp > 220/120 mmHg và không dùng thuốc hạ huyết áp nhỏ dưới lưỡi.

5. Nên đưa người đột quỵ đến bệnh viện nào để tiết kiệm “thời gian vàng”?

Khi gặp người bị đột quỵ, việc đầu tiên là gọi cấp cứu, sau đó mới tiến hành các bước sơ cấp cứu dựa trên tình trạng của bệnh nhân còn ý thức hay mất ý thức…

Đột quỵ là một cấp cứu y tế khẩn cấp, càng sớm bao nhiêu thì sự an toàn tính mạng và khả năng phục hồi của bệnh nhân đột quỵ càng cao bấy nhiêu. Mỗi giây, mỗi phút trôi qua, tính mạng bệnh nhân đột quỵ càng bị đe dọa, khả năng hồi phục giảm, nguy cơ di chứng, biến chứng sau đột quỵ tăng.

Do đó, khi phát hiện người bệnh có các triệu chứng của đột quỵ não như: yếu liệt nửa người, méo miệng đột ngột hoặc nói đớ, nói không rõ chữ… người nhà cần gọi cấp cứu (Trung tâm cấp cứu 115), đưa bệnh nhân đến thẳng ngay bệnh viện có đủ khả năng điều trị đột quỵ (tối thiếu phải có CT-Scan; tốt hơn nữa là được trang bị MRI, DSA, thực hiện được tất cả các phương pháp điều trị đột quỵ) và gần nhất trong khoảng 2 giờ để có thể điều trị kịp trong thời gian vàng.